NỬA ÐỜI CHINH CHIẾN

TNT

 Sau một năm du học khóa Chỉ Huy và Tham Mưu tại căn cứ Quantico của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ ở Tiểu bang Virginia, Thạch đáp ngay chuyến bay sớm nhất để trở về Việt Nam. Một tuần lễ trước ngày mãn khóa, viên Trung Tá Trưởng Phòng đặc trách sinh viên ngoại quốc mời Thạch lên văn phòng. Ông cho biết Thạch sẽ được cấp văn bằng tốt nghiệp và "offer" cho chàng 6 tuần lễ du hành quan sát với Ðệ Lục Hạm Ðội Hoa Kỳ tại vùng Ðịa Trung Hải. Thạch đã cương quyết từ chối và đòi về Việt Nam ngay sau ngày lễ tốt nghiệp dưới cặp mắt nhìn vừa ngạc nhiên vừa có vẻ chế diễu của người Sĩ quan TQLC Mỹ đã từng qua Việt Nam một nhiệm kỳ (một năm). Lúc bấy giờ cuộc chiến ở Miền Nam vừa bước qua giai đoạn cao điểm của "Mùa Hè Ðỏ Lửa" năm 1972. Ðối với người lính Mỹ, Việt Nam là "Ðịa ngục trần gian" kèm theo vô số tên gọi đầy máu và lửa của cuộc chiến. "Chỉ có điên mới tức tốc đâm đầu về Việt Nam". Nào ai có hiểu được tâm trạng của người lính phải xa lìa bạn bè, đồng đội và chiến hữu ngoài trận mạc, tâm trạng xa lìa quê hương, bỏ lại đàng sau đứa con mới chập chững biết đi ngày lên đường du học.  
Một năm lạc lõng giữa xứ lạ quê người, trơ trọi một mình, với biết bao nhung nhớ đến quay quắt. Không phải Thạch làm kẻ "điếc không sợ súng". Một năm ở Mỹ vào giai đoạn quyết liệt và nóng bỏng nhất của những cuộc xuống đường đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam của bè cánh và sinh viên Mỹ đòi hòa bình trước những tổn thất dồn dập do quân đội Mỹ và xã hội Hoa Kỳ.  
Tiếp theo là đòn chí tử giáng xuống cho Tổng Thống NIXON vừa tái đắc cử qua vụ "Watergate" trong khi ông ta cố vãn hồi với kế hoạch "rút lui trong danh dự" từ chiến trường Việt Nam, hầu như mỗi ngày đem về cảnh chết chóc và tang thương trên màn ảnh truyền hình tại nước Mỹ. Người ta đã quá chán ngán chỉ muốn quay lưng phủi tay ra đi. Cũng quãng thời gian này, Liên bang Xô Viết lại ký kết Hiệp ước bất tương xâm với "Iran và Iraq" tại trung Ðông khiến cho tập đoàn người Mỹ gốc Do Thái lo ngại cho tình hình an ninh của Mẫu quốc. Dù vốn liếng ít ỏi về kiến thức chính trị, Thạch cũng biết rõ Hoa Kỳ sẽ rời bỏ Việt Nam mặc những cam kết này nọ trước đây. Nhưng Thạch không tin quân đội Cộng Sản Miền Bắc sẽ đánh thắng Miền Nam. Bằng chứng là trận Tổng Công Kích bất ngờ năm Mậu Thân 68 và năm 72. Mà dù có sống chết gì cũng phải trở về với đất nước và quê hương. Chỉ có thế thôi. 
Sau chuyến bay dài qua Thái Bình Dương, Thạch đã đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất giữ nắng trưa chói chan vào trung tuần tháng 8 của Saigon còn đầy nhựa sống. Thạch vừa bước qua tuổi "lập thân" trưởng thành và chín chắn. Tuổi đời tuy còn trẻ nhưng tuổi chiến trường đã già dặn và khó lòng biết trước "sẽ đi ngày nào". Thạch thấy lúng túng giữa cơn nóng hầm hập trong bộ quân phục ỏõ lễ nghi ỏõ bốn túi bằng vải ỏõ worsted ỏõ giữa những người đồng hương ăn mặc giản tiện và đen đũi. Việt Nam ta đây rồi. Nước Mỹ giàu có và thanh bình đã xa ngàn dặm, với chiếc mũ bê rê màu xanh lục bẻ lệch trên đầu, dù sao cũng không làm cho Thạch cảm thấy xa lạ.

- Về đâu anh Ba.
Thạch dựng đứng chiếc vali nặng cồng kềnh đáp:
- Tôi về đường Nguyễn Văn Học, kế viện Ung Thư.  
- Xong rồi, lên xe đi anh Ba.

Thạch cũng phải tức cười trước tiếng xưng hô "anh Ba" dẻo quẹo của người tài xế, hỏi lại:

- Anh tính bao nhiêu? Mà tôi không có tiền Việt Nam à nghen!  
- Ðô la cũng được.
- Bao nhiêu, nói rõ đi ông Nội !  
- Gần xịt mà tính mắc dzậy !  
- Thôi mà anh Ba. Mới ở Mỹ về cho em út một bữa nhậu đi !  
- Ừ, vậy cũng được.

Thạch trở về bất ngờ, nhà không có ai, đóng cửa im ỉm. Thạch leo cửa sổ chui vô mở cửa đem valise vào rồi thay quần áo thường, đi bộ ra đầu ngõ đón xe đi tìm vợ con. Chắc cô nàng buồn tình dắt con về bên ngoại. Trước ngày đi Mỹ, Thạch cũng đã biết vợ chàng đã chạy chiếc xe Lambretta của mình quanh quẩn trong thành phố Saigon và Gia Ðịnh.  
Ðến nhà mẹ vợ, Thạch thấy đứa con gái đang ngồi giữa mấy món đồ chơi bằng nhựa trên sàn nhà gạch bông. Chàng cúi xuống đưa hai tay dang ra phía trước định bồng ôm con vào lòng, nhưng phải khựng lại vì thấy con mình ngẩng mặt mở to hai mắt nhìn xa lạ. Thạch đã xa nhà trọn một năm. Lúc ấy đứa con gái chỉ mới tròn một tuổi, chưa biết nói. Tình thương con dâng lên dạt dào, Thạch nói vỗ về:  

- Bố đi Mỹ mới về, nè. Mẹ đâu rồi ?  
- Mẹ đi công chuyện.

Giọng cô bé nũng nịu nhưng rất rõ ràng, rồi nó sa vào lòng của Thạch kêu lên mừng rỡ: "Bố, Bố", Thạch xúc động muốn ứa nước mắt. Có con mới thấu hiểu được tình của Cha mẹ. Sau khi thăm hỏi và trao quà tặng mang từ Mỹ về cho bà mẹ vợ, một lúc sau, Thạch quyết định đem con về nhà.  
Ðứa bé sau khi nhận diện được ra Cha mình đã tíu tít và quấn theo chân Thạch. Chàng đã dự định sẽ ở nhà với con hai tuần lễ rồi sẽ vào trình diện ở Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn. Thạch bồng con gái bên hông rồi quảy túi đựng bình sữa ra đường đón xe taxi. Mãi đến tối vợ của Thạch mới về đến nhà.  

- Anh về lúc nào vậy? Em cứ tưởng vài hôm nữa anh mới về. Mới nhận được thư của anh từ Mỹ gửi về tuần trước đây. - Con Trâm đâu rồi.  
- Nó vừa mới ngủ. Khóc một chập rồi mới chịu đi ngủ. Chắc là nhớ mẹ.

Vợ Thạch chỉ mới vừa ngoài hai mươi, mặc quần bó và chiếc áo cánh ngắn tay, hoa nhỏ màu da cam. Tóc nàng cắt ngắn được kẹp gọn ra sau. Mặt trang điểm nhẹ. Thạch với tay đỡ lấy chiếc xe Lambretta trên tay vợ đẩy vào căn phòng khách, nói vui:

- Hồi này em chạy xe rành lắm rồi phải không ?  
- Chỉ tội hơi nặng khi chống lên.  
-Vậy cũng là gồ ghề lắm rồi.

Nghỉ ở nhà thêm một ngày với vợ con, ngày hôm sau cả gia đình nhỏ của Thạch ra bến xe đò Minh Trung lên Ðà Lạt thăm gia đình. Vợ của Thạch bảo anh về nhằm ngày em đi thu hụi. Chả là cô được mẹ truyền cho tí nghề mọn để xoay xở thêm cho kinh tế gia đình. Mấy vụ này Thạch chẳng biết và cũng chẳng thiết tha gì, vốn quen từ bé, có bao nhiêu xài bấy nhiêu. Tùy theo túi tiền mà sống cho đỡ bận tâm suy tính.

Nàng bảo: Em muốn có dư tí tỉnh cho con đi học trường Mẫu giáo đàng hoàng. Lương của anh chỉ đủ sống.

Thạch sinh trưởng ở Ðàlạt. Ra trường Võ bị, Thạch đi miệt mài với đơn vị thuộc Lực lượng Tổng trừ bị. Có mặt hầu hết các mặt trận sôi bỏng. Hễ có cơ hội, Thạch lại mò về nơi chôn nhau cắt rốn. Ở đây, mỗi con đường, góc phố, những ngọn đồi, cánh rừng thông vắng lặng chừng như đếu mang nhiều kỷ niệm của tuổi thơ và tuổi trẻ khó quên. Những con dốc quanh co còn mang dấu chân ngây dại của những ngày còn lặn lội đến trường. Những tia nắng sáng rực rỡ trên vùng đối núi yên tĩnh còn lấp lánh sương mai đọng trên từng ngọn cỏ.  
Những buổi chiều đi học về,nắng vàng vọt ở cuối chân trời với núi rừng trùng điệp màu tím than khi trời trở mùa tỏa hơi lạnh nhẹ nhàng vào từng làn thớ thịt. Bao nhiêu kỷ niệm nhung nhớ vẫn còn ấp ủ trong tận đáy lòng, trong thâm sâu tâm khảm của Thạch. Chàng còn quay về để tìm thăm mộ người Mẹ vắn số nằm yên nghỉ ở lưng đồi phía Bắc của Mả Thánh.  
Từ những năm lên 10 tuổi, đến ngày giỗ Mẹ, trơ trọi một mình, Thạch lần mò đi bộ xuyên đồi núi tìm thăm mộ. Từ căn nhà nhỏ của người Cậu ở nhà Ðoan trên ngọn núi nhìn xuống xóm Lò Gạch xuyên qua chân đồi Tu Viện Domaine de Marie đến ấp số 4 rồi băng qua khu vườn trồng rau cải giữa khe núi mới cúi gập người leo lên dốc. Nghĩa địa về hướng khu mộ Tử Sĩ nằm phía Ðông Bắc của Mả Thánh. Vài năm sau, cậu bé 12 tuổi lặn lội từ ngôi nhà ở đầu dốc Preen, qua ngã ba Biệt Ðiện, xuống dốc Cercle de Sportif, qua cầu Ông Ðạo, lên dốc chợ, xuống dốc Minh Mạng đến đường Phan Ðình Phùng, ngang chùa Linh Sơn đến ngã ba Ấp Hà Tĩnh trồng Dâu tây mới đến chân núi nghĩa địa. Có khi chỉ vài tháng, nhớ mẹ cậu bé Thạch lại lội bộ lên thăm mộ Mẹ.  
Ở Ðàlạt được một tuần. Bạn bè cùng lứa tuổi chẳng còn mấy ai. Thạch đem vợ con về Nha Trang thăm quê Ngoại. Bà Ngoại của Thạch mất khi chàng đang còn bên Mỹ. Bây giờ về thăm các Cậu, Dì ra đốt nhang lên mộ Bà và hai đứa em sinh đôi đã mất ở đây khi mẹ Thạch còn sống. Cây dừa Xiêm được Bà Ngoại đặt tên Thạch vẫn còn trước sân đất nhỏ. Khu vườn dừa rợp bóng mát bên bờ sông chảy ra cầu Xóm Bống vẫn không có gì thay đổi. Vào năm 14 tuổi, nhân chuyến Trại Hè do trường Trung Học Quang Trung tổ chức học sinh bằng đường xe lửa, Thạch đã tìm đường vào tận lối vào nhà của Bà Ngoại và chột gặp người Dì thứ tư đang ngồi đổ bánh canh. Dì ôm chặt đứa cháu mồ côi mẹ khóc nức nở miệng kêu không ngớt "Chị Hai ơi ! Chị Hai", khiến Thạch cũng không cầm được nước mắt. Bây giờ Thạch đã 32 tuổi.  
Hai tuần lễ với gia đình thoáng đã trôi qua. Tưởng chừng như một giấc mộng.  
Thạch mang giấy tờ tốt nghiệp từ Mỹ vào trình diện Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn ở đầu đường Lê Thánh Tôn, Saigon.  
Vừa đúng lúc ông Tướng về họp ở Saigon. Ngày hôm sau, với túi quân trang nhẹ, Thạch được lệnh tháp tùng theo chuyến bay Air Viet Nam của Tư Lệnh và Sĩ quan Tùy Viên từ Tân Sơn Nhất ra Phú Bài, Huế.  
Chiếc trực thăng của vị Tướng Tư Lệnh đáp xuống bên Phá Tam Giang vào buổi chiều nắng còn loang loáng trên mặt nước yên lặng mênh mông và những thửa ruộng xanh mướt đồng lúa. Khi chiếc trực thăng ngưng cánh quạt, Chuẩn Tướng BÙI nghiêm nghị quay sang nhìn Thạch nói chỉ đủ nghe:

- "Thôi, ông theo Ðại Úy Ðan sắp xếp chỗ ngủ rồi sẽ nói chuyện sau".

Thạch bước xuống máy bay, đưa tay chào rồi quay ra hướng vị Sĩ quan Tùy viên, nguyên là khóa đàn em ở trường Võ Bị. Không khí chiến tranh đã quanh quẩn đây rồi.
Bộ Tư Lệnh Hành Quân đóng ngay ở cơ sở trường Tiểu Học Quận Hương Ðiền với lớp lớp bao cát quân đội vây quanh. Các đơn vị yểm trợ hành quân nằm vây quanh trong xóm làng sau các lũy tre dày kín. Hai bên trục lộ rải đá lỡm chởm, bên bờ Ðông của sông Vĩnh Ðịnh là các Pháo đội TQLC chĩa nòng súng 155 ly về phía Bắc và phía Tây. Hạm đội 7 Hoa Kỳ lấp lửng trên mặt biển Ðông ở cuối đường chân trời. Sáng hôm sau, khi Tướng Tư lệnh đáp trực thăng đi xem tình hình các đơn vị trên chạm tuyến, Thạch được lệnh tháp tùng. Chỉ có thế thôi. Không có lệnh hay chỉ thị gì khác.  
Tuy vậy, nhờ thế Thạch đã bắt lại nhịp sống ở đơn vị tác chiến qua bạn bè cùng khóa Võ Bị, anh em đồng đội cũ còn sống sót sau "Mùa Hè Ðỏ Lửa" năm 72, những nơi hoang tàn đổ nát, những xác xe cháy đen thui nằm ngà nghiêng hai bên "Ðại Lộ Kinh Hoàng" từ Mỹ Chánh lên đến bờ sông Thạch Hãn, những xóm định cư trơ chọi với những dãy nhà vách ván mái tôn thu mình chịu đựng giữa cảnh đồng khô cô quạnh. Thạch chỉ ước đoán có lẽ Tướng Tư Lệnh muốn giữ chàng làm Chánh Văn Phòng thay thế cho người bạn đã ra đơn vị. Dù không thích Thạch cũng mặc cho mọi việc trôi đi. Một tuần lễ sau, chàng lại được lệnh qua vị Tham Mưu Trưởng ra ngồi làm việc tại Phòng Hành Quân. Những ngày kế tiếp, Thạch soạn thảo các tài liệu Huấn luyện quân Thủy Bộ lấy từ các bài học ở trường Chỉ huy và Tham Mưu TQLC Hoa Kỳ. Rồi chàng đến các Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn giảng dạy cho các sĩ quan cấp Ðại Ðội trưởng ý niệm về tổ chức và tham dự các cuộc hành quân đổ bộ. Ðám bạn cùng khóa ghé lại kéo đi ăn nhậu lê la rồi cũng qua ngày.  
Cho đến một sáng sớm, gần 2 tháng sau ngày trở về từ Hoa Kỳ, Thạch được vị Tham Mưu Trưởng gọi lên cho lệnh lên chạm tuyến bàn giao Tiểu Ðoàn với một người bạn thân cùng khóa Võ Bị. Quảng Trị và Huế đã vào mùa mưa lũ. Chiếc xe Jeep cũ của Phòng Hành Quân đưa Thạch ngược qua đò Thuận An, vòng Bến Ðá, qua Huế vượt qua cầu Mỹ Chánh vào Quãng trị, chạy ngang Hải Lăng, qua Nhà Thờ La Vang vào thành phố Quảng Trị tiêu điều đổ nát, dưới cơn mưa tầm tã.  
Nước lũ từ trên Trường Sơn đổ xuống đã ngập trắng những cánh đồng phía Ðông của Quốc Lộ. Chiếc xe phải dừng lại ở chân cầu Ba Bến trên đường vào Triệu Phong khi tất cả xóm làng từ thôn Bích La đổ ra hướng biển đã chìm ngập dưới làn nước đục ngầu màu đất đỏ phù sa. Người lính tài xế nhảy xuống xe lôi khẩu M.16 móc sau lưng ghế cầm lăm lăm như đánh hơi có điều gì bất trắc. Chợt hiện ra từ sau lũy tre ba chiếc Thiết Vận Xa M.113 ào ào rẽ nước chạy về hướng Thạch đang đứng. Chàng nhận ra dáng người bạn cùng khóa Võ bị trong đám lính đứng lố nhố trên nóc xe thiết giáp.  
Trung Tá Nguyễn Ðằng Tống, người đã về cùng Tiểu Ðoàn với Thạch ngày mới ra trường. Tống giơ cao tay vẫy vẫy với nụ cười tươi trên môi trong bộ chiến phục rằn ri có vẻ còn mới tinh. Trong thoáng chốc, đoàn xe đã dừng lại ngay dưới bên kia chân cầu Ba Bến bắt ngang con sông Vĩnh Ðịnh. Tống mang túi vải bên hông nhanh nhẹn nhảy xuống, đưa tay bắt bàn tay của Thạch miệng nói liền :

- Tao đã chuẩn bị đâu ra đó ở trỏng. Mày cứ lên xe vào đi. Tiểu đoàn phó là Phạm Văn Tiền khóa 20, Ban 3 là Nguyễn Trí Nam khóa 22. Còn dàn Ðại Ðội trưởng, đứa nào cũng biết mày hết. Trong đó có Dương Công Phó K.22, Dương Tấn Tước và Mai Văn Hiếu K.23 do mày lấy về đó, nhớ không ? À, còn nữa. . . , Tống mở cặp lấy một cuộn giấy bạc 500 đồng dúi vào tay Thạch rồi nói :

- Ðây là 10 ngàn đồng tao cho mày để xài lúc mới ra Tiểu Ðoàn.  
- Thôi, tao đi nghen. Tao phải ra Phú Bài cho kịp chuyến bay về Sàigòn. Ngày mai tao làm đám cưới vợ rồi!

Thạch phải bật cười trước tác phong ào ào của Tống, nói đùa lại:

- Thôi được rồi. Mày về lo cưới vợ đi. Khi nào trở ra tao sẽ tính sau.

Tống đã nhảy gọn lên xe Jeep và quay đầu chạy ra hướng thành phố Quảng trị. Thạch từ tốn leo lên mui xe M.113 trở vào vị trí đóng quân của Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 4 TQLC. Ðại đội Chỉ huy và Bộ Chỉ huy Tiểu Ðoàn Hành quân bám quanh một rẻo đất cao giữa biển nước mênh mông. Căn hầm làm Trung Tâm Hành Quân cũng lấp xấp nước ngập. Ðại Úy Nguyễn tri Nam đứng đón trong quân phục chỉnh tề với nũ cười và làn da trắng trẻo như con gái, nói:

- Chào Niên trưởng. Ðại Bàng 4/6 có căn dặn đầy đủ rồi. Bị nước lụt còn lên nữa nên không thể mời các Ðại Ðội Trưởng và Bạch Yến về đây được. Ðể nay mai nước rút rồi tính sau.

Thạch bắt tay Nam, gật đầu nói :

- Ừ, vậy cũng phải. Có lẽ tự tôi sẽ đi xuồng ra vị trí thăm họ và xem xét tình hình luôn.

Nam đáp lại với vẻ hiểu biết :

- Khoan đã đi, Ðại Bàng, Nước còn lên nữa. Việt Cộng đã lấy ghe xuồng của dân chúng chực lấn qua. Mình đang chờ Ho bo của Công Binh đưa lên.

Vừa lúc ấy một sĩ quan cao gầy, nước da ngăm đen bước đến, Nam xoay người lại đưa tay giới thiệu :

- Ðây là Ðại Úy Tài, Ðại đội trưởng Ðại đội Chỉ Huy.  

Tài đưa tay chào rồi nói nhỏ nhẹ với giọng miền Nam:

- Tụi tui có nghe nói về Ðại Bàng hồi mới về Tiểu Ðoàn 4, bây giờ mới gặp.Mấy đứa sắp đặt chỗ ở cho Ðại Bàng đâu ra đó rồi. Nước lụt nhưng mình có cá tươi và le le vịt nước làm mồi nhậu hết sẩy.

Lính tác chiến mà không có nhậu nhẹt làm như thiếu cái gì. Nhìn quanh chỉ thấy nước ngập mênh mông. Vậy mà lính vẫn nấu ăn được mới tài. Thạch chợt liên tưởng hồi hành quân ở rừng U Minh, Cà Mâu. Lội rừng ngập nước cả tuần lễ nhưng bữa nào cũng có cơm nóng.  
Ðến khuya, dưới ngọn đèn tự chế bằng cách câu dây điện vào cục "Pile" cũ của máy AN/PRC25, Thạch bước vào căn hầm dựng bằng bao cát chất quanh thùng đạn gỗ Pháo Binh phế thải, nước đã ngập lấp xấp dưới chân. Cứ mặc, Thạch cởi dày leo lên chiếc ghế bố nhà binh nằm thiếp đi trong giấc ngủ. Qua nửa đêm, Thạch choàng thức dậy vì nước đã dâng lên ướt đến lưng, loay hoay cho đến sáng. Nắng đã lên rực rỡ trên mặt nước đục ngầu. Lấp loáng từng đàn vịt nước xào xạc, tíu tít ngoài đồng trống ngập nước.  
Với người lính mang máy truyền tin và một cận vệ, Thạch chống xuồng lên chạm tuyến thăm đơn vị. Lính của Tiểu đoàn đã bám theo bờ đê cao với lùm tre dày đặc và cả những mô đắp cao trống trải. Tiểu đoàn phó Phạm văn Tiền nguyên xuất thân khóa 20 Võ Bị, chỉ huy cánh quân B với hai Ðại Ðội do Ðại Úy Tô Thanh Chiêu và Dương Tấn Tước đảm trách. Người sĩ quan hiện dịch này nguyên gốc Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên đã lặn lội hành quân từ năm 65 đến nay lập nhiều chiến công trên hầu khắp các mặt trận nóng bỏng, Tiền nhất quyết không chịu lùi một bước trước địch quân ngông cuồng. Những người lính sống sót của đơn vị cũ từ ngày Thạch mới đáo nhậm còn lại có thể đếm trên đầu ngón tay.  
Thạch gặp lại người Binh Nhất năm nào khi còn làm Trung đội trưởng nay cũng đã lên Trung Sĩ Nhất, không khỏi xúc động, Thạch đã dừng lại thăm hỏi anh ta rất lâu. Trung Sĩ Nhất Lê Văn Quậy vẫn còn độc thân. Thạch hỏi ý Ðại Ðội Trưởng Dương Công Phó, xin Quậy lên coi đám cận vệ ở Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn. Thạch còn đem người Hạ sĩ quan lớn tuổi nguyên là Tiểu Ðội trưởng của chàng ngày trước nay đã lên Thượng Sĩ về làm Thường Vụ Tiểu Ðoàn.  
Ai cũng biết Việt Cộng sẽ còn đánh nữa. Thạch nghĩ có lẽ tụi nó còn chờ cho Mỹ bật đèn xanh, theo mỹ từ chính trị gọi là "Dân Tộc Tự Quyết". Số phận của anh em Thạch là những con chốt trên bàn cờ thí quân. Giù vậy, Thạch cũng không nản lòng, thối chí. Bây giờ dưới quyền của Thạch còn hàng trăm người lính dõi mắt trông theo. Khi phải ngã xuống Thạch cũng không muốn mất chí khí của một người lính Thủy Quân Lục Chiến trước mặt quân thù.  
Nhờ nước lụt, ngày nào đám lính cũng cho Thạch nhậu tiết canh "vịt trời".  
Bầy le le không rõ từ đâu tụ tập bay cả đàn làm tối cả một khoảng trời. Con nào cũng mập và béo ngậy. Hơn tuần lễ sau, nước rút cạn, ngay chuyến tiếp tế lương thực đầu tiên, Thạch tổ chức một buổi họp mặt tất cả Sĩ quan để ra mắt và trao đổi. Mối liên hệ giữa những người cầm súng ngoài mặt trận mật thiết như tình anh em ruột thịt. "Làm gì thì làm, nhậu một bữa cho ngoắc cần câu rồi tính sau".  
Tạm ổn ở phía trước, Thạch lên xe chạy về Thành Mang Cá Nhỏ ở Huế xem xét tình hình Hậu Trạm của Tiểu Ðoàn, nhân tiện ghé thăm mấy người bạn cùng khóa Võ Bị đóng quân quanh quẩn từ LaVang về đến Hải Lăng, Mỹ Chánh, Quảng Trị.

Tại La Vang, Nguyễn Văn Kim đang coi Tiểu Ðoàn 7 TQLC, tỏ vẻ vui mừng nói:

- "Tao định chờ nước rút gọi mày ra nhậu nhẹt một bữa. Ai ngờ mày lại đến".

Thạch cho biết trên đường ra thăm Hậu Trạm, Kim vỗ vai cười nói :

- "Mày chờ tao một chút, để tao thu xếp xong sẽ đi về Huế với mày cho vui".

Dù ở nơi nào, chiến trận ra sao, lúc nào Kim cũng tươm tất với quần áo trận sạch sẽ thẵng nếp với đồng hồ đeo tay hiệu Rolex và kính mát hiệu Rayban gọng vàng. Dáng Kim tầm thước, chắc gọn và giường mặt với nước da trắng, vuông như một người Ðại Hàn. Cái gì đối với Kim cũng phải đâu ra đó, không có đại khái, bừa bãi được. Biết tính bạn nên Thạch kiên nhẫn chờ đợi. Khi trở ra lên xe, Kim nhìn lại Thạch một lúc rồi buột miệng nói:

- Mày vẫn còn dấu vết của Mỹ. Nghe nói thằng Cố Vấn Sư Ðoàn bây giờ là Classmate của mày phải không ?

Thạch nhìn bạn cười, gật đầu. Hai chiếc xe Jeep có gắn cần câu máy truyền tin nối đuôi nhau chạy về Huế. Kim nói: Ðể tao rủ thằng Phúc nữa. Bây giờ nó làm Lữ đoàn phó, khó gặp lắm.  
Ngày trước, khi mới ra trường đến đơn vị Kim và Nguyễn Xuân Phúc, sau này được người đàn em Pham Nhật Nam tặng cho biệt danh Robert Lửa cùng về Tiểu Ðoàn 2 "Trâu Ðiên". Tiếng tăm của Phúc nổi như cồn sau trận tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị của TQLC năm 1972. Lúc nào Phúc cũng hết lòng với đàn em và bạn bè. Hơn 10 năm trận mạc với một vết thương trên ngực và lon Trung Tá, Phúc chẳng có gì nhiều cho riêng tư, ngoài mấy bộ chiến y rằn ri đựng trong thùng hòm gỗ làm bằng thùng đạn pháo binh phế thải. Nhưng Phúc có đầu óc lớn và tấm lòng bao dung, quảng đại, hào sảng của một cấp chỉ huy từng trải, lăn lộn ngoài chiến trường.

Nói thế, nhưng đến trưa lại, khi mọi việc tạm xong ở Hậu Trạm của Tiểu Ðoàn, Thạch đã nghe tiếng của Kim gọi trên máy liên lạc bảo Phúc đang chờ trên tầng nhà hàng của Khách sạn Hương Giang. Ðến nơi Thạch đã thấy có cả mấy người bạn cùng khóa Võ Bị là Nguyễn Ðằng Tống, Ðỗ Hữu Tùng đang cười đùa vui vẻ. Nhác thấy Thạch bước vào, Phúc nói lớn :

- Ê, Cao bồi (tục danh của Thạch) tao gọi tụi nó ra đây cho mày khao một chầu đấy! Ði Mỹ mới về mày nhận Tiểu Ðoàn này, thế cũng đủ cho mày khao bọn tớ được rồi.

Niềm vui vô tư của đám bạn cùng khóa ngày nào nay chợt trở lại trong không khí họp mặt "Dã chiến", Thạch đáp liền:

- Hôm nay mới đúng là ngày thằng Tống đãi bàn giao Tiểu Ðoàn. Tao mới nhận có chó gì mà khao với đãi.  
- Ê, Ê! Nó tiêu hết tiền lo cưới vợ rồi.
- Thôi được, để tao đãi. Mười ngàn nó cho tao còn nguyên đây.

Bạn bè tay bắt mặt mừng, nói cười huyên thuyên. Cách đây 10 năm, người Thiếu Úy non choẹt mới ra trường đến binh chủng TQLC nay chỉ còn 8. Hai người đã nằm xuống ngoài mặt trận ở Tây Ninh và Cần Thơ. Tám kẻ còn lại hiện có 2 người giữ chức vụ Lữ Ðoàn Phó, một làm Trưởng Phòng Hành quân Sư Ðoàn, năm người giữ 5 Tiểu Ðoàn TQLC. Dù tuổi đã lớn nhưng khi gặp nhau vẫn còn mày tao chi tớ như ngày nào còn trong trường Võ Bị, không có một chút tị hiềm, vướng bận.

Phúc nói với Thạch:

- Lúc mày ở Mỹ về, tụi tao chỉ mong mày ra đơn vị cho bạn bè có nhau. Làm Chánh Văn Phòng ăn cái giải gì mà nhục thấy mẹ.

Thạch đồng tình gật đầu.

- Dô đi mày, 100 phần trăm nghe.

Chai Martell Hannessy đã vơi hơn một nửa. Bữa nay không say không về được. Tới luôn! Ngày mai súng nổ đâu biết ai còn ai mất. Chỉ có mấy ông Tướng mới tranh giành kèn cựa với nhau. Tụi mình đâu có gì phải lo. Trên "răng" dưới "dế". Hễ đánh nhau là nhào lên. Ðời người chỉ chết có một lần, Ngửa cổ cạn ly rượu nồng, cất tiếng cười ha hả.

- "Làm trai cho đáng nên trai,
  Xuống Ðông, Ðông tĩnh, lên Ðoài, Ðoài tan... ".

Bây giờ Thạch đang ngồi bên bờ sông Hương. Mùa này nước chảy xiết và đục ngầu với cây gỗ trôi lềnh bềnh. Ở đây người ta gọi là Ðịa đầu giới tuyến. Pháo đã nổ rền trời. Máu đổ, thịt rơi. Chiến tranh thập thò ngay ngoái ngưỡng cửa. Việt Nam, quê hương của tôi vẫn còn ngập chìm trong khói lửa.

BACK