NỬA ÐỜI CHINH CHIẾN

Trần Ngọc Toàn

 VỀ QUÊ

Với đôi mắt ánh lên niềm vui như trẻ thơ, Quyên khèo tay Thạch vừa nói:

- Hôm nay bên Nội có kỵ, em nói với Chị Yến mướn đò qua sông rồi. Chút nữa đi.

- Rồi nàng chỉ ngón tay về hướng doi đất bồi sau nhà với lùm tre xỏa lá qua phía bên kia bờ sông Hương, từ hướng Kim Long nhìn qua, với xóm làng thấp thoáng trong rừng cây trái trên rặng đồi trải dài ra tận khúc quanh của dòng nước đục đất phù sa. Chưa một lần nào Thạch có dịp đi khỏi khúc quành ấy của sông Hương. Có khi, người bạn đồng khóa Võ Bị đưa tay chỉ từ cầu Bạch Hổ về hướng Tây với ngôi tháp xây bằng gạch màu vàng nói:  

- "Tao đóng quân gần khu nhà máy xi măng Long Thọ ở bên đó".Khi đi họp hành quân, vùng rừng núi phía Tây Huế, thuộc trách nhiệm của Sư đoàn I mang gánh nặng của dãy núi Trường Sơn với các con đường xâm nhập của Bắc quân chi chít trên tấm bản đồ quân sự. Tự trong thâm tâm, Thạch không thích hành quân ra miền Trung. Núi rừng hiểm trở, gian lao. Quân Việt Cộng tập trung lớn. Ðói khát đeo đuổi từng ngày. Trận đánh kéo dài vô chừng vô đỗi. Trong khi lội ở Miền Tây dù có bùn lầy sũng ướt cũng còn được tắm giặt, ăn uống đầy đủ. Ðánh nhau đến cấp Tiểu đoàn là hết nước.  

- Từ sau "mùa hè đỏ lửa" năm 1972, ra Huế là trực chỉ Quảng Trị "đất cày lên sỏi đá". Ðám lính ỏõ Tổng trừ bị ỏõ của Thạch lấy Huế làm hậu phương để thỉnh thoảng mò về gầy một bữa nhậu dù chẳng có gì nhiều trong cố đô khép kín và bảo thủ. Hoặc một chầu cà phê với lũ bạn nhà binh ngồi khật khưỡng, vụng về nghe lời nhạc Trịnh Công Sơn như để giải tỏa nỗi lòng ẩn ức.

"Tôi có người yêu chết trận Pleime  
Tôi có người yêu vừa chết đêm qua

Chết thật tình cờ. . . chẳng hẹn hò

. . . Nằm chết như mơ"

Nghe như "Hắn" cũng cầm súng đi trận yêu mình mới nói lên tận nỗi lòng như thế. Thấm thía vô cùng. Phản chiến hay không, dòng nhạc ấy vẫn âm vang rả riết khi Thạch trở lại vùng hành quân hết lòng đánh giặc. Còn hơn những bài ca rẻ tiền "Anh là lính đa tình", "Anh tiền tuyến em hậu phương". Mỗi lần nghe qua là nổi sùng muốn đập phá cho bõ ghét, hả giận. Tâm lý chiến rẻ tiền.

Ðã hơn 26 năm Thạch mới trở lại Huế. Quyên ra trường Ðại học Sư Phạm năm 73 rồi về dạy ở Cam Ranh. Hồi đó, Thạch chỉ biết vài cô trong trường Ðại Học Văn Khoa. Tết Mậu Thân rồi đến trận chiến ỏõ mùa Hè đỏ lửa ỏõ năm 72 đã khiến cho mấy cô gái Huế bạo dạn hơn xưa. Có lẽ, từ đó, trận tuyến hai bên Quốc gia và Cộng sản cũng rõ rệt hơn. Thời gian ấy Thạch đã quyết chí tu tỉnh nên chẳng muốn dây dưa với cô gái nào. Từ Quảng trị chạy về Huế, Thạch chỉ đi tìm bữa cơm trắng với món tôm chua thịt luộc rau thơm kèm vài chai bia 33, trong một quán ăn ỏõ thời cuộc ỏõ một khu vườn cây nhãn nhà riêng. Rồi ghé tiệm sách quơ một ít tạp chí, truyện dịch và truyện chưởng Kim Dung để nhâm nhi khi trở ra vùng hành quân.

Khi nằm võng đong đưa giữa rừng cây, bên hố núp cá nhân, dươi tàng chiếc ỏõ Poncho ỏõ che mưa nắng, không gì bằng thả hồn mê lạc theo ỏõ Tiếu ngạo giang hồ ỏõ và ỏõ Cô gái Ðồ longõõ. Không phải lo sợ gì. Con người đến số chết là chết. Chỉ chết có một lần. Dù có ỏõ chết hai lần ỏõ như lời hát của TCS cũng chẳng còn viết gì để mà kể lể.

Khi Thạch và Quyên chuẩn bị về Huế thăm Mẹ già, bà chị của Quyên ở Houston lo lắng căn dặn:

- Ðừng để Chú ấy về Huế. Nguy lắm, Thủy Quân Lục Chiến mà. Liệu thu xếp đưa Mạ vào Bình Dương cho chú ấy gặp là được rồi.

Thạch thấy không được. Ðã về thăm ỏõ Mạ ỏõmà còn bắt cụ phải lặn lội vào Nam. Bà đã 93 tuổi rồi. Ði máy bay cũng còn khó khăn nữa. Thạch nhất quyết ra Huế. Công dân Mỹ mà sợ gì tụi nó. Quyên không ra mặt nhưng lo ngấm ngầm. Nàng đã gọi điện thoại về Bình Dương nhờ ông anh ruột thu xếp ra Huế đưa "Mạ" vào Saigon trước. Anh bảo Mạ già yếu lắm. Chưa chắc gì Mạ chịu đi. Chị Yến cũng không cho Mạ đi nữa. Nghe được Thạch phản đối và cương quyết nói với Quyên là anh nhất định về Huế thăm Mạ. Không sao đâu. Ðại khái là về đến Sàigòn, ngày hôm sau bay ra Huế ở một tuần lễ thăm Bà Cụ và gia đình rồi bay trở về. Sau đó, đi xe lên Ðà Lạt xem việc dời mộ Mẹ của Thạch từ khu Nghĩa Trang Mã Thách ở ầp số 4 về Trại Mát ở Ðà Lạt. Có thể ghé ra Nha Trang thăm gia đình bên Ngoại của Thạch rồi trở lại Saigòn vài ngày trước khi bay về Mỹ. Tuy thế, Quyên có vẻ chưa yên lòng. Bây giờ ở Huế lại xảy ra vụ Linh mục Lý nữa. Nhà của Mạ lại ở gần một ngôi nhà thờ lớn ở Kim Long. Nguyệt Biều ở phía bên kia sông. Thạch trấn an Quyên với niềm tin vững chắc.

Bây giờ cả hai đã ngủ qua một đêm ở một căn nhà do Ba của Quyên xây cất. Nền nhà được nâng cao lần lần sau mỗi cơn lụt. Trận nước lũ vừa rồi cũng đã tràn vào nhà khiến vợ chồng Chị Yến phải cõng níu đưa hai ông bà cụ lên căn gác lửng. Ðất phù sa đã lấp doi đất sau nhà mở ra một khoảnh sân nhỏ giữa hai lùm tre do ông Cụ trồng đã lâu năm. Căn nhà trước để bàn thờ và chiếc xập gụ. Bên hông chái đã cho người lấy chỗ bán gạo và một quầy nhỏ bán vàng theo kiểu hàng xén cho có "đồng ra, đồng vào".

Bà Cụ cũng có nơi trò chuyện với khách hàng qua lại làm vui. Phía bên kia con đường nhựa nhỏ hẹp lỗ chỗ là sân đình Kim Long đã trở thành khu chợ ồn ào tấp nập với người ở quanh làng mua bán. Ngày hôm sau, khi qua chợ mua bún bò Huế về cho Thạch và Quyên ăn sáng, chị Yến cười cười kể:  

- Bên chợ họ hỏi có phải chồng của Quyên là người Mỹ không? Chị nói không. Cậu nó là người Việt mình đó. Có vẻ như họ không tin.  

Thạch buột miệng nói:  

- Thôi để mai em qua mua để họ biết là không phải Mỹ.

Quyên gạt đi:  

- Ai lại làm vậy. Ai lại để anh đi chợ.  
- 
Có sao đâu. Bên Mỹ đàn ông đi chợ là thường.  
- Bên này khác, làm sao anh biết trả giá kỳ kèo bớt một thêm hai được.  

- 
Vậy thôi để em đi. Cho anh đi theo coi cho biết.

Về Huế, trời còn nóng, Thạch mặc quần soọc ống dài màu kaki với áo thun tay ngắn màu trắng. Ðầu đội mũ lưỡi trai đen. Mới về nên da còn trắng. Lại thêm bộ râu mép.  
Có lẽ do đã 26 năm sống lam lũ với Việt Cộng nên người dân nhìn thấy Thạch như người ngoại quốc. Gọi chung là "Tây hay Mỹ" cho giản tiện thế thôi.  
Sau bữa ăn sáng, trò chuyện với Mạ rồi Thạch và Quyên cùng ông anh của Quyên, ra từ Bình Dương, xuống bến để qua sông. Chị Yến đã nhanh nhẩu chạy ra gọi với chiếc ghe đang cắm sào bên ngoài. Gia đình chủ ghe với hai vợ chồng nhỏ nhắn và hai đứa con chừng 7, 8 tuổi xúm xít trên chiếc ghe có mui dài chừng 10 thước tây. Ðứa bé trai vận mỗi chiếc quần xà lỏn vàng sỉn đong đưa đôi mắt tò mò nhìn Thạch rồi lại nói cười lí nhí với đứa chị nhỏ nhắn ngồi dấu trong khoang thuyền. Người chồng quay ra sau đuôi ghe, trong khi cô vợ nhảy xuống đẩy mũi quay ra giữa sông. Chống từ bờ ra một đoạn ghe nổ máy lạch bạch chạy thẳng qua phía bên kia bờ sông Nguyệt Biều.

Thạch thích thú nhìn ngắm suốt dòng sông. Ghe chở cát sạn từ trên ghềnh Hòn Chen nối đuôi nổ máy dòn tan chạy dọc theo bên kia bơ. Tiếng động cơ nổ bịch bịch vang dội cả khúc sông như chằng dừng.

Chiếc đò cặp vào một đầu cống vừa tầm cho một người bước lên bờ. Thạch nhảy vụt lên rồi đưa tay đỡ Quyên bước qua. Con đường chạy dọc bờ sông vẫn còn trải đá ong màu đỏ quánh. Hình như Thạch đã thấy loại địa chất này ở Phan Rang và Tân Uyên, Biên Hòa. Ðá ong như loại đất nung vón cục vào nhau màu đỏ hung.

Quyên chỉ Thạch đi lên con dốc uốn quanh theo bờ lũy tre rào quanh mấy ngôi nhà vách ván nằm khuất trong khu vườn cây trái. Không gian đã lắng đọng quanh đây. Thỉnh thoảngvài con chó ốm tong teo từ đâu đó chạy xồ ra sủa ủằng ẳng lẫn trong tiếng trẻ bi bô, bắng nhắng. Thạch đi chậm bước bên Quyên nghe nàng nói :

- Ðây là làng Nội. Các Chú, các Bác đều còn ở quanh đây trên đất gia tiên. Chỉ có Ba theo Mạ qua bên Kim Long. Mộ của Ba nằm trên ngọn đồi trên kia. Con đường nhỏ hẹp vừa một chiếc xe nhưng trống trải vì vắng người qua lại. Có người nói ỏõ cơn lụt năm tê nước cũng dâng lên mấp mé ngọn đồi bên nớ ỏõ.

Thạch nhớ ngày mới ra trường Võ Vị làm Trung đội trưởng lội vào chiến khu D ở vùng Tân Uyên. Cũng đá ong. Cũng lũy tre dày đặc. Du kích quân Việt Cộng thấp thoáng ẩn hiện bắn sẻ. Lúc đó, chỉ có súng thô sơ của thực dân Pháp bỏ lại. Cả hai ba tháng nằm "bình định", đơn vị của Thạch chia nhỏ, xục xạo, truy lùng ngày đêm bọn nằm vùng ở lại sau ngày Tập kết ra Bắc. Ðêm nào cũng đi kích. Nơi này khác ở chỗ đồi núi chập chùng nối liền đến tận dãy Trường Sơn ở phía Tây. Quyên quay sang phía Thạch với ánh mắt nhìn như tò mò, nói:

- Anh có biết lúc mình đi ra bến, Mạ đã đến ngồi bên cửa sổ sau bếp nhìn theo không ?  

- Sao Mạ lại nhìn theo. Bà đã chứng kiến qua nhiều cảnh vật đổi sao dời hơn 90 năm qua trên đất nước này. Suốt chiều dài cuộc chiến khốc liệt ở Miền Nam, bà không mất người con nào trong số bốn trai và bốn gái. Nguyên là con của quan Thượng thư của Triều Nguyễn, có người chị gái kết hôn với vua Duy Tân, bà vừa có vẻ quý phái với đầu óc sắc sảo vừa bình dị gần gũi với tất cả mọi người với cái cách nói chuyện ý nhị lẫn khôi hài. Khi Quyên mang một số quả táo từ Mỹ về làm quà, bà xén bớt cho họ hàng. Khi trao tay, bà pha trò nhẹ nhàng:  

- Ðây là "bom" của Quyên đem từ Mỹ về. Bom ỏõ không nổ ỏõ đâu! Người Việt vẫn còn dùng từ Pháp ngữ chỉ trái táo là "Pomme" nghe như tiếng bom.

Ðến người khác, bà nói:  

- Trái bom này mang từ Mỹ về. Ăn coi chừng bị nổ đó.

Chừng ấy cho thấy đầu óc bà còn rất minh mẫn với từng ấy tuổi thọ. Khi lấy chồng, bà chỉ quanh quẩn ở nhà lo việc gia đình và nuôi bày con đông đúc. Nhân một dịp về Sàigòn để thăm người em ruột, bị trễ máy bay vì thời tiết, bà đã tự đón xe một mình tìm đến tận nhà ở khu Khánh Hội. Trong khi mọi người cuống cuồng chạy đi tìm kiếm.

Bà đã chứng kiến sự sụp đổ của một Hoàng Triều. Bà đã lánh nạn chiến tranh chống Pháp rồi phải chia tay với hai người anh đi "Tập kết" ra Bắc.

Ðến Tết Mậu Thân 68, bà lo sợ cho lũ con đã lớn rơi vào cuộc thảm sát tập thể ở Cố Ðô Huế. Khi Cộng Sản từ Bắc tràn vào Nam, năm 75, bà gặp lại một người anh là Ðại Tá Không Quân Bắc Việt đã tỏ nỗi niềm ngờ vực và lo ngại về chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam, dù ông đã từng du học bên Nga để lái phi cơ phản lực Mig. Một ông anh làm chuyên gia ướp xác cho Hồ Chí Minh được đào luyện từ Nga đã đổi họ cho hợp với đường lối chuyên chính vô sản của Ðảng cầm quyền, tránh cái lý lịch quan liêu phong kiến.

Bà vẫn không có gì thay đổi. Vẫn vui vẻ, sống giản dị dù các con của Bà nay đã tứ tán khắp phương trời. Cũng may bà còn người con gái nguyên là giáo viên ở lại quanh quẩn chăm sóc cho cha mẹ già với sự tiếp tay của các em ở xa.

Bà vẫn còn nhớ rõ vanh vách những trận lụt lớn nhỏ ở sông Hương và bao lần cửa Thuận An dời đổi. Những mẩu chuyện Bà kể như không bao giờ hết. Bá nhắc về người Chị vào Cung học ăn học nói, học đi đứng trước khi kết hôn với Vua Duy Tân. Ngày bà phải xa lìa chị ruột, khi nhà Vua bị thực dân Pháp đầy đi một đảo nhỏ tận bên Phi châu cho đến một ngày Bà Hậu được Vua Duy Tân gửi một thuyền trưởng người Pháp cho trở về cố hương để rồi sống như vậy cho tới ngày cuối cùng của cuộc đời trong giản dị thanh khiết như một nhà tu hành ở trong xóm làng mộc mạc của Kim Long, Huế.

Bà nói về Ông Ngoại tuy làm quan trong Triều, nhưng bần hàn vì thanh liêm. Ngôi nhà Từ đường khiêm nhường chỉ đủ chỗ cho bàn thờ và bức ảnh ông mặc Triều Phục uy nghi trưng bày.

Bà con xa gần ai giàu sang phú quí cứ mặc. Bà vẫn bình lặng và vui sống với con cháu trong đạm bạc như từ thuở nào.    

Thạch và Quyên sánh bước chậm trên con đường rải đá ong đỏ vắng vẻ trong làng quê Nội bên bờ nam của sông Hương. Hàng rào tre rũ cành xuống hai bên đường. Phía sauthấp thoáng những thân cây mít già cỗi vơÀi cành sần sùi và lá sum suê. Cảnh vật yên tĩnh lạ thường như ngày chinh chiến bom đạn cày sới đã xa xăm lắm. Qua khỏi con dốc thoải, Quyên chỉ ngôi nhà của Chú này, Bác nọ ần khuất sau vườn cây trái um tùm. Quyên nói:  

- Lúc nhỏ, em chỉ về làng Nội khi nào có kỵ giỗ. Em thường ghé về làng Ngoại hơn. Người xưa dã phân biệt nội tộc và ngoại tộc. Gái là người ngoài, dù vẫn mang ho Cha. Thực tế ngoài đời, con cháu vẫn luôn tìm thấy tình cảm chứa chan ở bên Ngoại với dòng sữa nuôi con truyền tiếp. Bản thân của Thạch, bao nhiêu lần bị hất hủi bỏ rơi trong thời niên thiếu, Thạch cũng tìm nguồn an ủi vuốt ve của gia đình Ngoại ở mãi tãn Nha Trang. Khi xoay sở vừa đủ tiền cho một vé xe lửa hạng Ba, chú bé chỉ vừa 13, 14 tuổi đã một mình ra Ga làm một chuyến đi dài suốt từ Dalat đến Ðơn Dương, khật khưỡng xuống Ðèo Ngoạn Mục tới Krong pha, qua Tháp Chàm vịnh Cam Ranh rồi đến Nha Trang vào xế chiều nắng chói chan, thiêu đốt tương phản với Dalạt sương mù.  

Rẽ bước vào một khu vườn, Quyên lớn tiếng chào và giới thiêu Thạch với một ông Bác đang lui cui dọn cỏ vườn. Rồi nàng nhanh nhẩu và thành thạo dẫn Thạch đi xuyên ra sau vườn về hướng đồi. Những ngôi mộ xây hình móng ngựa tiếp giáp liền sau vườn cây ăn trái. Kia là mộ ông bà Nội. Ðây là mộ của Ba. Từ đây, nhìn về phía Nam là dãy đồi thấp, mấp mô đến tận chân núi xanh cuối chân trời. Một khuôn viên nhà máy tươm tât lẫn khuất trong khu vườn cây dưới lũng. Quyên nói đó là nhà máy làm rượu Sakê của Nhật Bản xây dựng chừng mười năm nay. Các chuyên gia Nhật đã lùng sục thăm dò tìm kiếm trên suốt dải đất miền Trung, đã khám phá ra nơi ấy có dòng nước thật tinh khiết đủ tiêu chuẩn để cất rượu Sakê. Họ đã dựng Nhà Máy và thuê mướn nhân công địa phương. Làm việc cho người Nhật phải cần cù, chăm chỉ và kỷ luật. Dù sao, như người ta nóivẫn còn hơn chịu sự áp bức thô bạo của chủ nhân ông người Triều Tiên ở xưởng máy giày dép và quần áo. Hơn 26 năm nắm chính quyền Cộng Sản đã không đem lại cợm no áo ấm cho người dân còn bắc thang cho bọn tài phiệt ở Nam Hàn, Ðài Loan thao túng bắt chẹt và hành hạ nhân công người Việt trong các xưởng máy ngay vùng phụ cận của thành phố Saigon, Ðà Nẵng. Túi tham của bọn Cán bộ cao cấp không đáy đã đánh mất lương tri của những con người đảng cầm quyền.  

Phía Bắc của mộ ông Cụ là sông Hương. Nơi này khá cao để chưa bao giờ dòng nước lũ có thể tràn ngập đến tận nơi. Cảnh trời đất quanh đây như một bức họa thủy mạc Trung Hoa hoành tráng.  

Thạch móc túi lấy quẹt ga bật lửa mồi cháy cả bó nhang mang theo. Quyên thận trọng đi quanh cắm từng cành hoa tươi xuống các nấm mộ xung quanh. Thạch cầm ba thẻ hương chắp tay đứng bên cạnh Quyên khấn thầm đôi lời như ra mắt ông Cụ vừa xa lìa cõi trần năm ngoái sau mùa lũ lụt hàng năm. Ông đã thọ 95 tuổi. Khi ông còn, từ Mỹ, Thạch đã mạo muội viết lá thư gửi về thăm hỏi ông bà và xin ông chính thức làm bạn với Quyên.. Ông đáp từ không dứt khoát ưng thuận mà bảo Quyên phải tự tay viết thư về cho Ông mới được..  

Rốt cuộc, khi hay tin ông ngã xuống lâm trọng bệnh, Quyên vội vàng lấy vé phi cơ về chỉ kịp nhìn thấy ông mở mắt và mấp máy đôi môi lần cuối. Riêng đối với ỏõ Mạ ỏ, bà đã gọi con và xưng Mạ với Thạch ngay từ trên cú điện thoại viễn liên đầu tiên. Tiếng của Bà chậm, nhưng nghe rất rõ ràng, dễ nghe. Ðó là tiếng nói thân thiết của Người Mẹ Việt Nam với truyền thống hàng ngàn năm và lịch sử đấu tranh như không ngưng nghỉ của dân tộc Việt trên mảnh đất quê hương nằm chên h vênh bên bờ Thái Bình Dương mênh mông biển cả.  

Thạch ngồi xuống một bờ đá xây quanh mộ, ngắm nhìn theo dáng Quyên đang cặm cụi chăm chút làm sạch ngôi mộ còn trơ trụi đất mới của người cha đã tận tụy nuôi dạy bầy con nên người. Trông Quyên như trẻ lại. Nàng lặng lẽ đi quanh quẩn với hoài niệm. Dáng Quyên không còn gầy nhom xương xẩu như ngày Thạch mới gặp ở phía Bắc Virginia. Sức sống sinh động đã trỗi dậy. Nàng ỏõ không có vẻ như người thường ỏõ theo lời nhận xét của một bà gặp trong bữa tiệc. Dáng dấp khoan thai và đài các của nàng chắc phải từ bà mẹ truyền lại. Sau năm 75, cuộc đời của nàng có lúc đã xuống tận cùng với bao nhiêu là gian truân, nhọc nhằn, đầy thử thách. Quyên đã phải lao đầu vào việc làm lao động để tự lo bản thân và nuôi đứa con trai độc nhất vừa 10 tuổi khi người chồng đột ngột lìà trần. Quyên còn tằn tiện để gửi tiền về nuôi dưỡng cha mẹ già ở quê nhà.  

Dù xa Huế từ năm 73, tiếng nói của Quyên vẫn còn đặc giọng núi Ngự sông Hương. Vốn tinh nghịch, thỉnh thoảng Thạch nhái giọng lập lại một câu nói, bất chợt khiến Thạch thích thú. Khi bị Quyên cự nự, Thạch bảo anh cũng là người Huế, chỉ phải tội mất gốc vì sinh trưởng ở Dalat.  
Quanh quẩn ghé thăm thêm một vài nhà bà con họ hàng, Thạch và Quyênlững thững quay lại bến đò. Cách một dòng sông mà bên này yên tĩnh và vắng lặng. Ðứng bên này bờ chỉ lớn tiếng hú gọi, chủ ghe đã nhận biết nổ máy chạy sang đón.  
Thạch chợt liên tưởng đến những ngày còn hành quân ở vùng sông rạch Miền Tây. Ghe máy đuôi tôm vượt sông dưới làn đạn AK chát chúa ở lùm bụi phía bên kia bờ.  
Trong chiến tranh, người lính trận vẫn thường đùa giỡn với tử thần như cơm trưa.  
Tiếng bom đạn đã ngưng bặt trên quê hương hơn 26 năm mà sao mọi người cứÀ nói chưa có ỏõ hòa bình ỏõ. Bởi còn quá nhiều đói khổ, đe dọa cứ trĩu nặng trên lưng trên đầu vì chế độ đã phá sản còn cố níu kéo, dây dưa. Dân tộc cần cù, thông minh này cứ chịu cảnh nghèo nàn lạc hậu triền miên.  
Bước vào nhà, bữa cơm trưa đã dọn sẵn. Cả nhà quây quần. Chị Yến bảo có cô bạn học cũ ghé tìm Quyên hẹn chiều sẽ trở lại. Có cả một bạn học trai cũng ghé thăm. Chồng Chị Yến nói dạo này trông ỏõ cậu ấy ỏõ có vẻ sa sút so với hồi mới được Nhật bảo trợ gây vườn cây ở miệt Truồi.  
Ðám cán bộ như bầy quạ, kên kên, bu vào dành xé con mồi khi đánh hơi có miếng ăn. Rốt cuộc, một người với lý tưởng ỏõ xây dựng đất nước ỏõ đã bị ngả làm mồi. Quyên nói sẽ mời tất cả bạn học cũ ra tiệm ăn làm một buổi họp mặt. Thạch xin kiếu cho mấy ỏõ cô ỏõ thoải mái chuyện trò tưởng nhớ ngày xa xưa còn trẻ dại. Quyên còn có cô bạn cùng lớp ngày xưa nay làm Phó Hiệu Trưởng Trung Học Ðồng Khánh, nhờ có ông chú ỏõ làm lớn ỏõ. Hầu hết đều làm cô giáo. Quyên tự thấy bâng khuâng tiếc nuối những ngày còn đứng trên bục giảng đã xa xưa. Ở Huế, ai lớn lên cũng ráng học giỏi. Xong thì hoặc làm nghề giáo hoặc công chức. Lời dạy bảo của các Cụ Ðồ Nho như vẫn in sâu vào trong trí não mọi người. Chẳng ai hãnh diện nhờ buôn bán làm giàu.  
Những ngày trở lại Việt Nam cứ phải ăn ngày ba bữa lỉnh kỉnh dọn vào dọn ra. Không phải đi làm việc, Thạch thấy người cứ lợn cợn. Buổi sáng thức dậy, khi Quyên trò chuyện với mẹ và phụ chị làm thức ăn, Thạch lững thững tản bộ từ nhà đến chùa Thiên Mụ dọc bờ sông. Hình như người nào cũng tò mò nhìn theo khiến Thạch tưởng mình như lạc trên đất khách quê người, Trơ trẽn nhô ra giữa xóm vườn cũ nát như còn nhây nhúa với bùn đất sót lại trong cơn lụt năm ngoái, một hai căn lầu hợm hĩnh của giai cấp mới ngoi lên từ tham ô nhũng lạm vênh váo đứng trên cảnh vật hoang tàn đổ nát xung quanh.  
Thậm chí, còn có "một anh nhà quê" bỗng giàu sụ đã nổi hứng xây một căn lầu phía bên rẻo đất bồi sát bờ sông để "trời làm cơn lụt mỗi năm" đã mất trắng. Chỉ còn ngôi nhà đúc bê tông bỏ trống đứng ủ rũ bên do2ng nước trôi theo thời gian.  
Tháp chuông Thiên Mụ biểu tượng một thời hưng thịnh của Phật Giáo ở Cố đô Huế, nay đã được khai thác du lịch một cách vá víu với tầm mắt hạn hẹp của địa phương.. Hàng quán tồi tàn. Làm ăn tủn mủn. Thạch càng thấy thương hại những đồng bào đang bị o ép, đè nén trong thiếu thốn, khổ cực. Chỉ có trụ sở hành chánh quận và đồng Công an trông tươm tất, bảnh chọe vói cờ xí lòe loẹt theo kiểu Cộng sản Nga-Tàu. Thạch đã dừng bước, ngồi xuống bậc thềm đã được nới sát xuống bờ làm bến cho các loại ghe thuyền chở khách du ngoạn sông Hương. Thạch nhớ có lần đưa chân người bác từ Pháp về thăm quê hương vào năm 74, vào khu Ðàn Nam Giao để tìm thăm mộ của bà Nội ruột. Ngay cả người trông giữ nghĩa trang cũng không giúp gì được trong việc tìm kiếm. Bà đã mất từ những năm 1920 đến nay. Thân nhân đã tứ tán. Trong xã hội Việt Nam xa xưa đó, Bà đã được đặt tên thật mới là Tô Thị Khánh Lệ. Nhưng bà đã sớm lìa cõi trần.  
Lần này, trở lại Huế, Thạch tự an ủi xem như thân xác của Bà đã trở về với cát bụi trên quê hương.  
Lúc thấy du khách nhộn nhạo cặp , lên bờ lao xao, Thạch đứng lên lững thững quay về nhà. Quyên đứng ngóng ở cửa vẻ mặt lo lắng hỏi:  

- "Anh đi đâu lâu vậy ? Em cứ sợ anh lạc".

Thạch bật cười, tinh ngịch đáp:

- Lạc ? Em sợ anh lạc ở đây sao ? Ði dăm bước đã trở lại chốn cũ mà lạc thế nào được .

Rồi Thạch đổi giọng hỏi lại :  

- Em định rủ Anh đi đâu phải không ?  
- Mạ nói em với anh đi thăm bà con bên Ngoại ở Thành Nội rồi ra chợ Ðông Ba xem cho biết.  
- 
Ừ, đi liền. Anh cũng muốn đi loanh quanh xem sự tình cho vui.  

HUẾ, ÐÔ THỊ

Từ Kim Long ngồi xe gắn máy chạy ra Huế, Thạch ngỡ như lạc vào một góc khu phố của Sàigòn ố Gia Ðịnh trước năm 75. Cố đô Huế văn hóa khép kín ngày xưa nay đã đổi màu ỏõ thị trường nhộn nhịp ỏõ. Dù chỉ bốc nổi, vá víu bề ngoài cũng đủ làm mất đi dáng vẽ kiêu kỳ của phố xưa trầm lắng. Ngay cả thời chiến tranh dữ dội với cả ngàn quân lính ồ ạt, Huế vẫn giữ được vẻ khép nép trầm tư mặc tưởng.  
Khúc Quốc lộ 1 nối liền Nam ố Bắc bên phía Tây Thành Nội đã mở rộng liền đến con đường sắt xuyên việt vẫn còn như lỡ dở chưa xong. Từ cổng Tây Thành Nội, con đường trải nhựa nhỏ hẹp ngày xưa nay càng nhỏ hẹp hơn nữa với hàng quán kiếm sống của cư dân mở ra ở phần trước căn nhà thu gọn với diện tích giới hạn. Có vẻ như nhà nào cũng mở ra buôn bán tạp nhạp để mưu sinh. Những con đường phố xen ngang kẻ dọc như vẫn còn dấu tích trận đánh đẫm máu của Tết Mậu Thân từ năm 1968. Quân chính quy Cộng sản và Du kích Việt Cộng đã chiếm giữ với hai mươi lăm ngày, tàn sát không gớm tay với xác người lây lất bên bờ rào, dưới đầm sen, ở lề đường. Ðại Nội cổ kính của Triều Nguyễn vẫn còn tường gạch dày cứng rêu phong, loang lổ. Hào nước bao quanh ngập lá sen che kín. Căn nhà xây gạch cũ của bà dì Quyên nằm sâu khuất trong khuôn vườn trái cây và rào đúc vây quanh. Vẫn còn cảnh cũ. Rời căn nhà này về phía cửa Thượng Tứ là địa chỉ của một ông Cậu với căn nhà lầu chễm chệ mới xây do các con của ông vượt biên ở Mỹ trở về ỏõ báo hiếu ỏõ. Ngôi nhà gạch ngói xưa thu mình một bên trong khu vườn cây nhãn nhỏ hẹp. Ông Cậu vừa được con cháu lo cho một chuyến du lịch Hoa Kỳ mới trở lại quê nhà tuần trước.. Trông ông vẫn còn sung mãn với tiếng nói cười rộn rã và những mẩu chuyện về nước Mỹ.  
Sau cùng, Quyên đem Thạch đến thăm người Dì buôn bán phát đạt bên khu gần trường Ðặi học Văn Khoa cũ khi cả nhà còn bừa bộn, ướt đẫm với thợ hồ xây sửa căn lầu ngày trước nay đã trở nên nhỏ hẹp với con cháu, bám quanh tìm kế sinh nhai. Kiến trúc vá víu, trái ngược lẫn nhau, chen chân trên từng khoảnh đất hạn hẹp khiến mọi người mang cảm tưởng bất an và tạm bợ.  
Bao giờ mới có "Hòa Bình" ?  
Cuối cùng, chồng chị Yến chỉ ra còn bà con bên phía Khu Nhà Thờ Phú Cam nữa. Có cái gì không ổn trong khu phố phường quanh co lên xuống dốc cao và ngôi nhà thờ chế ngự trên đỉnh đồi lẫn lộn kiến trúc cũ và mới.

Trước khi trở về lại nhà ở Kim Long, Thạch và Quyên quay lại văn phòng Air Việt Nam để xác nhận chuyến bay về lại Sàigòn. Ngày hôm sau, Quyên nhờ chị Yến mướn đò đưa lên phía thượng nguồn sông Hương. Từ xưa, Thạch chỉ có dịp ngằm đoạn sông từ cửa Thuận An lên đến khúc quành dưới chân Chùa Thiên Mụ. Mùa này dòng nước vẫn còn đục màu đất phù sa. Du khách được đón ở bến đối diện Trường Ðại Học Văn Khoa cũ với các loại thuyền chạy máy trang trí vẽ vời rập khuôn thuyền rồng của các vua nhà Nguyễn ngày xưa. Quyên sửa sọn một ít thức uống và trái cây rồi kéo xuống thuyền đò neo ngoài bãi sau nhà. Ðò mở máy chạy lạch bạch ngược dòng lên hướng Văn Thánh qua bãi neo của vài chiếc ghe lấy cát từ dưới lòng sông để bán cho công ty xây dựng. Neo giữa khúc quành là chiếc tàu sắt loai LCU sót lại từ trước 75 được Công An Cộng Sản lấy làm tàu tuần trên sông.  
Thạch đối nón lá che của Quyên ngồi chồm ra phía mũi đo ngắm cảnh vật hai bên bờ sông . Dân chúng đã trồng vội những thửa bắp trông còn èo uột trên bãi đất phù sa sót lại sau trận lũ lớn năm ngoái, Núi rừng trùng điệp xanh ngắt chạy tít tận chân trời phía Tây. Thấp thoáng sau rặng tre xóm nhà mái tranh sậm màu cỏ úa lẻ loi chống chọi với nghèo đói và thiên tai hàng năm như lời rủa của dân tộc Chiêm Thành.  
Sinh trưởng ở Dalat từ nhỏ đến lớn, Thạch chỉ chứng kiến một trận lụt làm ngập cả xóm Lò Gạch nằm trên dòng nước từ hồ Xuân Hương chảy về thác Cam Ly. Nước lũ từ mãi thượng nguồn ở Suối Vàng đổ xuống vàng ệch với đất cát. Nhà của Thạch ở đầu dốc Prenn nên khi đi học ở trường Tiểu Học Dalat đứng từ dốc Duy Tân nhìn xuống mới nhận biết trận lut đã xảy ra. Mãi đến ngày ra hành quân ở Quảng Trị vào tháng 10 năm 73, Thạch mới nếm mùi trận lũ của Miền Trung giữa đêm tối, trong cơn mưa ồ ạt, chỉ trong vài tiếng đồng hồ, nước lụt dâng ngập trắng cánh đồng ở vùng Chợ Cạn. Quân lính của đơn vị phòng thủ trên các bờ đê phải bám theo lũy tre cùng với rắn rít, chuột đồng. Bên địch, Việt Cộng đã trưng dụng ghe xuồng của dân chúng neo vào gốc tre. Ngày hôm sau, xuồng máy Công binh được chuyển lên từ Huế được chèo chống lên tuyến đầu làm chỗ tạm trú cho từng Tiểu đội. Bất cứ giá nào cũng không lui quân sau ngày đình chiến. Những bao gạo Trung Cộng được đóng kín trong bao Nylon dày màu xanh do bọn Việt Cộng tiếp tế cho đơn vị bằng cách thả trôi theo dòng nước, đã trôi tuột sang phía đóng quân của Tiểu Ðoàn 4 TQLC. Lần đầu tiên, Thạch đã nhận thức ra sự lệ thuộc của quân miền Bắc vào guồng máy chiến tranh của Trung Cộng. Trong khi, đồng minh Mỹ đang từ từ buông lỏng bàn tay viện trợ cho Miền Nam Việt Nam.  
Chiếc ghe vẫn giữ tốc độ chậm hướng mũi về đầu nguồn sông Hương. Nhô ra ra từ phía hữu ngạn là khối đá tròn nhẵn cao như một ngọn đồi với nócđình thờ Bà ẩn hiện trong lùm cây xanh tươi. Quyên bảo đó là ghềnh Chén. Ở đấy có thờ Bà Chúa rất linh thiêng. Ngày xưa, dân chúng và nhất là ghe chài thường ghé đến cúng xin. Ngày nay chính quyền Cộng sản đã biến thành điểm du lịch để móc túi người vãng lai. Chiếc ghe của Thạch chỉ ghé tấp được vào ghềnh đá dưới chân núi. Nhìn lên cuối bậc cấp giữa lùm cây cổ thụ um tùm lá rễ trạm thu vé vào cửa đã thấp thoáng bóng người. Nản lòng, Thạch ngồi xuống bờ đá ngắm nhìn suốt dòng sông. Khu khai thác đá xây dựng ở dưới chân núi phía Tây đang sì-sụp tiếng máy nổ. Một chốc, Quyên lên tiếng bảo quay thuyền trở về. Chẳng có gì đáng xem. Mũi ghe chuyển qua phía bên kia, bờ bên nhà máy xi măng Long Thọ, xuôi về hướng Ðông.  
Từ dưới sông nhìn lên, tháp chuông Thiên Mụ đượm vẻ uy nghi trầm mặc trước thế sự thăng trầm. Kim Long sầm uất lẫn chìm trong vườn cây lá xanh um.  
Thạch hồi tưởng những ngày chinh chiến cũ luôn ấp ủ trong lòng niềm mơ ước cho quê hương thanh bình, im vắng tiếng súng. Bom đạn đã im tiếng hơn một phần tư thế kỷ mà sao quê hương vẫn chưa thấy thanh bình. Dân chúng vẫn lầm than, đói khổ. Hàng triệu người Việt lưu vong ở xứ người vẫn hằng hướng mắt và dõi tấm lòng về nơi chôn nhau cắt rún, mong mỏi một ngày trở về trong lòng đất quê hương cho vơi nỗi niềm nhung nhớ dày vò. Chế độCộng sản ngoại lai và lỗi thời đã không đem đến ấm no và thanh bình cho đất nước, đã hũy hoại cả hai ba thế hệ con người với nền đạo đức rữa nát, trí tuệ u mê, chậm tiến, mất cả niềm tin và ý chí quật khởi, cúi đầu chạy theo nhu cầu vật chất nhỏ nhoi, tủn mủn. Một ngày nào đó, những kẻ trách nhiệm phải được đưa ra xét xử như những tội đồ của dân tộc.

TRỞ VỀ NAM

Thấm thoắt một tuần lễ đã trôi qua. Ngày mai thạch cùng Quyên trở về Sàigòn. Thành phố thân quen cũ nay đã trở nên xa lạ với dân cư đông gấp bội tứ xứ đổ vào, nhà cửa và dinh thự dựng lên ngổn ngang. Ðường phố nhỏ hẹp lại vì bán buôn theo thời cuộc chiến lấn hết lề khách bộ hành. Trong khi ấy, người đi bộ, xe đạp, xe gắn máy, xe tải, xe hơi xe hàng chen chúc hỗn loạn, ồn ào, bất cẩn. Rác rến và mùi hôi cống rãnh nghẹt lâu ngày nhào trộn với tiếng còi xe không dứt, ngày và đêm.  
Cuối cùng chịu không nổi, Thạch đã rủ Quyên lên nhà người anh vợ ở Bình Dương làm nơi tạm trú.  
Thực tế, bây giờ ở Miền Nam chỉ có hai giai cấp. Tất nhiên giai cấp mới là những kẻ tự xưng vô sản đã trở nên giàu sụ, nhờ trời hơn Hai mươi năm nắm chính quyền, cùng với bầy lũ ăn hôi, theo bám mánh mung chạy chọt. Giai cấp thứ hai là những kẻ có gia đình thân nhân ở ngoại quốc chi viện nuôi dưỡng hoặc thậm chí còn mơ chuyện làm giàu hão huyền dưới chế độ Công An Cộng Sản. Còn bàn dân thiên hạ hơn 90% dân số sống trong túng quẫn, nghèo đói, chạy ăn từng bữa và thất học hoặc có học cũng như không.  
Vừa bước vào căn nhà trống trải của người anh vợ, Thạch đã thấy bà chị dâu từ dưới nhà bếp nhan nhẹn đi lên tươi cười, nói rổn rảng:  

- Ði về có vui không.  

Chị tiếp lời :  

- Mới xong ca mổ về thật đúng lúc. Nào chiều nay để tụi này đãi đi ăn tiệm gà nướng nghe.
Quyên dẫy nẩy:

- Thôi, thôi. Cám ơn Chị. Một tuần lễ ở Huế ngày nào cũng ăn bún bò. Chắc Cholesterol lên cao lắm rồi. Ðể em đi chợ với Chị mua rau cá về ăn.  
Thế là bà chị lôi chiếc xe gắn máy ra đường chở cô em chồng đi chộ Bình Dương chỉ cách vài dãy phố. Thạch lững thững đi bộ qua tiệm cho mướn sách bên hông Nhà Thờ, lấy bộ sách ỏõ Tiếu Ngạo Giang Hồ ỏõ về nằm trên võng đọc tiêu khiển.  
Sau khi khám bệnh và cấp thuốc cho bệnh nhân với giá 10 ngàn ( chưa tới 10 xu Mỹ ) anh Thắng ra sau nhà bếp tìm Thạch, nói:  

- Tối nay có muốn đi xem Ðại Nhạc hội ở Sàigòn không ? Có cả mục fashion show nữa.

Thạch bỏ cuốn truyện xuống, ngồi chồm dậy, đáp:  

- Dạ thôi anh. Chẳng có giợ đáng xem để cất công về tận Sàigòn.

Người anh vợ cố thuyết phục:

- Ðâu có xa gì. Hồi còn ở Sàigòn, mỗi ngày tụi này đạp xe lên trên này làm việc cho bệnh viện.

Rồi anh cười cười tiếp lời hơi có vẻ chua chát:  

- Nhớ lại những ngày đó mà phải tự phục mình. Ðạp xe lọc cọc còn đèo thêm bà vợ nữa chớ !

Thạch không khỏi liên tưởng đến những vị Bác sĩ cùng thời với anh đã chạy thoát sang Mỹ năm 75, bây giờ xênh xang nhà cao cửa rộng. Anh lại là Bác sĩ chuyên giỏi về phẫu thuật. Thạch vụng về an ủi anh:  

- Thôi, tối nay anh coi đá banh trên truyền hình còn tụi này luyện chưởng.

Vốn là Bác sĩ dân sự bị trưng tập vào Quân đội trước 75, anh được đem ra khỏi Trại Tù Cải tạo sau gần một năm để làm việc cho các bệnh viện đã gần như tê liệt vì thiếu Bác sĩ. Anh loay hoay ở mãi tận Ðồng Xoài khi phong trào vượt biên nở rộ. Cuối cùng anh được điều về Bệnh Viện Bình Dương. Người vợ anh đã gặp trong hoạn nạn là chuyên viên gây mê trong phòng mổ của Bệnh viện. Anh cũng hội đủ điều kiện để đi Mỹ theo chương trình HO về sau.

Những năm làm việc tại bệnh viện, anh được đặt dưới quyền của những "Y sĩ cách mạng" với chủ trương "Hồng hơn chuyên".

Những người này thực ra chưa đáng làm học trò của anh với trình độ của một Y tá hạng bét ở nông thôn . Khi chế độ thi hành chính sách mở cửa, bọn này đua nhau vơ vét làm giàu trên lưng của anh với chức năng củia một bác sĩ từ tâm. Ðến lúc quá chán nản, anh xin về hưu với chứng từ đau yếu của một bác sĩ bạn. Vừa đúng lúc có người từ Mỹ về mở Bệnh viện tư tại đây đã mời anh ra làm cố vấn. Anh chỉ muốn làm chức năng của một lương y. Anh đã từ chối lời mời cộng tác của một người bạn học cũ đứng ra mở viện giải phẫu thẩm mỹ tại Saigon để hái ra tiền. Những người đàn bà với lý lịch ba đời bần cố nông trong hào quang của quyền lực cần ỏõ nâng cấp ỏõ dung nhan cho kịỳp với trào lưu mới. Những bậc nữ lưu vốn từ chốn bần hàn vượt biên ra ngọại quốc bèn mót chắt túi tiền nay muốn nâng mũi, cắt mắt, bơm môi mong biến thành Tiên trong giấc mộng lỡ thời. Ðôi bàn tay phẫu thuật khéo léo của anh sẽ làm ra tiền trong thời "đổi mới".

Anh đã không chạy theo đồng tiền mà muốn chữa bệnh, cứu người khốn khổ. Anh nói phân vua:

- Tụi này thấy áy náy. Từ Mỹ về mà hai người quanh quẩn trong nhà không đi đâu chơi hết.

Thạch đáp:

- Anh yên tâm. Tụi này chỉ muốn nghỉ ngơi trong không khí gia đình thôi.

Chợ Bình Dương có đủ loại rau tươi và đồ biển. Cợó lẽ nhờ vị trí nằm sát bên bờ sông Sàigòn.

Sáng sớm ngày thứ nhì từ Huế trở về, anh Thắng rủ Thạch đi uốpng cà phê vỉa hè sát cạnh nhà. Chủ quán là bà giáo kiếm thêm ít lợi tức cho gia đình một mẹ hai con trai. Chồng bà nguyên là phi công của Không quân Miền Nam tử trận trước 75. Cậu con trai phụ mẹ chạy quán cà phê, chỉ mở cửa từ 5 giờ đến 8 giờ sáng, trạc độ ngoài 20 tuổi. Người đàn bà mộc mạc của Bình Dương đã một lòng thờ chồng nuôi con với đồng lương tệ mạt của một giáo chức. Ban Mê Thuột vốn là nơi sản xuất cà phê nổi tiếng. Quốc lộ 13 nối liền Ban Mê Thuột về Sàigòn chạy ngang qua Bình Dương. Nhưng cà phê ở đây uống như hạt đậu rang cháy. Chỉ có cán bộ cao cấp và cơ quan xuất cảng dùng được cà phê nguyên chất và thơm ngon. Người ta tự lừa dối mình với ly cà phê đắng thiếu chất cà phê. Nhìn đi nhìn lại, quán càphê vỉa hè này chỉ gồm có khách trong nhóm nhỏ nhà giáo rặt Miền Nam. Thạch không thể nghe hết những mẩu chuyện trao đổi. Trông có vẻ như ai cũng chịu yên phận khi trên từng nét mặt như còn dấu vết cuộc chiến khốc liệt của một phần tư thế kỷ trước. Anh Thắng như cũng hòa mình vào đám đông qua đôi câu nói trao đổi nghe thật vu vơ.  
Quyên đã bàn trước hôm nay hai người sẽ về Sàigòn tìm thăm cô bạn học cũ nay vẫn còn đi dạy học. Quyên bảo bây giờ ngồi nghe đám bạn học cũ nói chuyện về lớp học và học trò làm nàng thấy nôn nao nhớ tiếc những ngày còn đứng trước bảng đen. Nhân tiện cả hai sẽ ghé vào văn phòng hãng máy bay Ðại Hàn để xác nhận chuyến bay về lại Hoa Kỳ. Từ chiếc ghế đẩu trên vỉa hè, Thạch có thể nhìn suốt dãy phố của đường Ngô Quyền chạy thẳng ra trục lộ dọc theo con sông Sàigòn. Thành Công Binh vẫn còn giữ nguyên nét vẽ cũ xưa từ thời thuộc địa Pháp với bóng dáng màu quân phục xanh đọt lá chuối của quân độị Cộng sản thấp thoáng Thực dân Pháp đã chọn ngọn núi nhỏ với rừng cây cổ thụ làm nơi đóng quân viễn chinh sau trở thành Tòa Hành Chánh tỉnh Bình Dương đến nay đã thay lá cờ máu đỏ Cộng Sản và những dãy phố lầu cất vội sau năm 75. Khúc đường qua chợ đã bế tắc với hàng quán và vựa chành nhận hàng lên từ bờ sông.  
Xe gắn máy của Nhật và Trung Cộng chạy ngược xuôi tạo thành tiếng động ồn áo không dứt. Ít có xe nào ngừng lại khi đèn lưu thông lên màu đỏ. Xe cộ chỉ chậm lại rồi luồn lách chạy qua để rồi cuộn tròn theo ỏõ bùng binh ỏõ trước ngõ Nhà Thờ đao Thiên Chúa và ngôi chùa Bà nổi tiếng thiêng liêng ở Miền Ðông.

 

ÐƯỜNG LÊN ÐÀLẠT

Nghe nói tuyến đường Sàigòn và Ðàlạt nay đã có nhiều loại xe đò mới với ghế ngồi thoải mái, Thạch và Quyên thảo luận rồi quyết định lên Ðalạt bằng xe đò. Lại phải nhờ bà chị Dâu gọi điện thoại lấy hẹn xe tắc xi đưa ra bền xe Miền Ðông ở Sàigòn. Với dân số tăng vọt sau chiến tranh và nhà cửa chen chúc dành sống hiện nay Thạch không làm sao nhận ra Bến xe cũ ngày xưa.  
Nơi Thạch thường ghé thăm người Cha khi ông làm Chủ tịch nghiệp đoàn xe Minh Trung. Nhìn quanh Thạch cũng thấy nhiều chiếc xe đò còn mới cả lớn lẫn nhỏ. Quyên nhanh nhẩu gởi xách tay cho Thạch rồi đi thẳng vào quày bán vé. Bên ngoài, lơ xe đò xô tới mời gọi níu kéo làm Thạch thấy khó chịu.  

- Anh Chị cứ lên xe đi. Xe này chạy liền, Còn rộng chỗ. Vé lấy sau cũng được".

Ai cũng lập lại một điệp khúc. Thậm chí có kẻ còn lôi cả quai túi xách trên vai của Thạch. Chàng cố trấn tĩnh đứng kiên nhẫn chờ Quyên, Tiếng còi xe inh ỏi. Tiếng người kêu gọi lao xao. Trời nắng cao nhưng còn mát. Thạch cẩn thận bước ra chỗ trống và đảo túi xách với hành trang nhẹ về trước ngực. Không thấy Công an nổi. Có lẽ bọn chìm quanh quẩn đâu đó dõi mắt "điều nghiên". Quyên thoăn thoắt đi ra với cặp vé xe cầm trên tay, tươi cười nói:  

- Hai đứa đi chỉ mất bốn chục ngàn thôi. Chỉ bằng vài đô la.

Vừa lúc, người lơ xe trẻ đứng gần gọi lớn:  

- Anh Chị lên đây đi. Ngồi phía trước. Xe chạy liền nè.

Thấy chiếc xe loại "Van" còn mới ít người, Thạch và Quyên dắt tay nhau bước tới. Loay hoay cũng đến gần nửa giờ sau xe mới lăn bánh chạy ra cổng rồi quay về đường phố ra phía Cầu Sơn Bình Thạnh đổ vào xa lộ Ðại Hàn cũ. Ðồng ruộng ngày xưa nay đã khuất lấp dưới những dãy phố, trại cưa, kho hàng san sát và chồm ra tận lề đường trong hỗn độn, vô trật tự, xấu xí. Cảnh bon chen tìm sống ấy trải dài ra tận căn cứ Sóng Thần bên xa lộ Biên Hòa.  
Năm 71, khi Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ rút khỏi căn cứ về nước, Thạch được lệnh đứng ra thành lập Bộ Chỉ Huy Căn Cứ để tiếp nhận. Doanh trại của đơn vị Mỹ này nằm trên lãnh thổ của ba Quận : Thủ Ðức, Lái Thiêu và Dĩ An. Với hàng trăm nhà ở và phi trường dùng cho phi cơ quân sự cỡ C. 123. Từ khu doanh trại này Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn TQLC đã gom vào với Trung Tâm Huấn Luyện Tân Binh và Hậu Cứ của 6 Tiểu Ðoàn với Bệnh Viện Lê Hữu Sanh cùng các Trại gia binh thành một căn cứ được đặt tên là Sóng Thần. Cổng Trại đồ sộ với tên nay vẫn còn dù đã rơi vào tay của Việt Cộng sau năm 75. Nghe nói thoạt đầu nơi này làm nơi trú quân cho Quân Khu 7 Việt Cộng.  
Ðến nay được biết tỉnh Bình Dương đã lấy làm khu kỹ nghệ. Quang cảnh từ ngã tư Thủ Ðức và Ðường Sơn Quán cũng không khác gì kéo dài ra tận Tam Hiệp, Hố Nai. Bức tượng Người Lính Cộng Hòa ngồi gác súng trên đài đã bị giật sập ngày 30 tháng Tư nhưng khu nghĩa trang vẫn còn bỏ hoang phế. Có vẻ như chưa ai dám phá sạch đi để xây dựng này nọ như Nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi ở Sàigòn. Sức sống như đã trở lại ở khu phố Hố Nai ố Gia Kiệm, nay được Cộng sản đổi thành Huyện ỏõ Thống Nhất ỏõ để xóa đi dĩ vãng di cư tị nạn Cộng Sản năm 54 của dân chúng định cư tại đây.  
Từ đây, tài xế và lơ xe đò ra sức đón khách dọc đường để kiếm thêm tiền bỏ túi. Khách nào lên tiếng phản đối là bị chửi rủa thậm tệ. Thạch cưa lờ đi mọi chuyện và hướng dẫn Quyên trên lộ trình như một ỏõ Tour Guide ỏõ nhà nghề. Từ những năm còn 6, 7 tuổi, Thạch đã được đi lại trên con Quốc lộ 20 từ Dàlạt về Saigòn nhiều lần. Khi hai bên đường suốt từ Tam Hiệp lên đến Bảo Lộc, chỉ toàn rừng cây rậm rịt. Có khi có cả thú rừng ngờ ngờ chạy băng ngang con lộ trải nhựa này. Ðoạn giữa là khu Ðịnh Quán với những tảng đá xanh khổng lồ chồng lên nhau rất ngoạn mục. Các loại xe thường dừng nơi này nghỉ xả hơi và dùng bữa trưa với các món đặc sản của Miền Nam như canh chua cá lóc, cá kho tộ và cả thịt rừng.  
Ðiểm giao nhau giữa Quốc lộ 1 và Quốc lộ 20 là Trảng Bom, Dầu Giây. Một rẽ về hướng rừng là đi Phan Thiết, Nha Trang,. Một hướng lên Bảo Lộc, Di Linh, và Ðà Lạt.  
Trước đây, dưới thung lũng Ðèo Chuối trước khi tới những đồn điền Trà bát ngát cây chuối rừng dày đặc điểm những buồng trái chín vàng rực nay không rõ tại sao đã mất dạng. Luôn cả những người Thượng sắc dân Kõ Ho cũng không còn thấy quẩy gùi đi hàng một bên bờ dốc nữa. Bàn tay sắt của Cộng sản nhằm tiêu diệt lực lượng chống đối sắc tộc như Fulro đã bứng những bộ tộc này khỏi nơi chôn nhau cắt rún của họ trong đám rừng sâu của miền Trung Cao Nguyên.  
Lên khỏi ngọn đèo Chuối dài độ 10 cây số ngoằn ngoèo, không khí chợt thay đổi hẳn. Trời mát dịu giữa cảnh núi rừng và vườn trà, cà phê xanh ngát. Dù vậy, hai bên Quốc lộ nay đã không còn vết hoang dã. Phố xá và nhà cửa đã mọc lên suốt hơn một trăm cây số đường còn lại đến tận chân đèo Preen. Lúc còn bé, Thạch và đám bạn trong đoàn Hướng Ðạo thường rủ nhau đi cắm trại bằng xe đạp. Thả dốc hơn 10 cây số xuống đèo như được chắp cánh bay đầy sôi động. Khi lên bọn Thạch chỉ chờ bám tay đeo theo chiếc xe chở hàng ì ạch bò lên dốc rồi cũng tới nơi.  
Quyên kể hồi còn dạy học ở Cam Ranh đã cùng mấy cô giáo bạn rủ nhau lên chơi ÐàLạt. Nàng đã run cầm cập vì không khí đột ngột thay đổi. Thành phố này quá trầm lắng và buồn như miên viễn.  
Từ bến xe ở đầu dốc Prenn, Thạch và Quyên lấy tắc xi vào thành phố. Thạch chỉ cho Quyên ngôi biệt thự cũ kỹ còn lại từ thời Pháp thuộc, nơi anh em Thạch đã sống côi cút sau ngày mẹ chàng qua đời. Mỗi ngày Thạch phải đi bộ từ đây vào khu chợ Hòa Bình đến trường Tiểu Học Ðàlạt.  
Xuống con dốc kế tiếp, bên phải là sân vận động và phòng tập Nhu đạo ngày xưa Thạch ghé lại mỗi ngày. Bên dưới nữa là Hồ Xuân Hương, Thạch bảo xe dừng lại bên hông khu Hòa Bình. Với túi xách trên vai, cả hai đến trước cửa tiệm của cô em gái trước nỗi bất ngờ.  

-  "Ồ, anh Thạch. Anh về hồi nào vậy ?"

Rồi cô em quay sang phía Quyên gật đầu chào và nói:  

- "Chào Chị".

Loay hoay một lúc, cô em nói:  

- "Ðể em bảo đứa nào đưa Anh Chị về nhà trước. Cả nhà em ở ngoài tiệm tới khuya mới về !"

Thạch không muốn làm bận lòng cô em, xen lời:  

- "Thôi để anh chị quanh quẩn ngoài phố vui hơn".

Thạch quay lại Quyên bảo:

- Bây giờ em tạm xuống lầu đi toilet rồi đi thăm hai đứa cháu bên chị Xuân

Quyên vui vẻ nhận lời ngay.
Vừa lúc, cậu em rể kế lái chiếc xe đưa du khách ghé đến. Người em gái kế của Thạch vừa mất năm ngoái vì bệnh hoại huyết. Tấn, người em re,ẩ tươi tỉnh vào cửa vừa hỏi:  

- "Anh về lúc nào đó. Tụi em không hay biết gì hết".

Thạch đưa tay bắt, với nụ cười và mắt nhìn quan sát, nói:  

- "Anh Chị định rành sự bất ngờ. Hơn nữa, tại Mỹ về ngày hôm sau đã bay ra Huế liền".  
- 
Anh ở bao lâu?  
- 
Chắc độ vài ngày.  
- 
Phần mộ gia đình ở Trại Mát bây giờ đẹp lắm. Em cũng đưa Hằng về đấy.  
- 
Xây cất đâu ra đó cả rồi.

Thạch không ngăn được xúc động lẫn niềm vui trào dâng trong lòng. Tưởng như một giấc mơ. Thạch đã sinh và lớn lên ở nơi này. Mười ba năm chinh chiến. Gần chín năm tù đầy. Lưu lạc quê người hơn mười sáu năm. Mọi vật tiến hóa không ngừng. Ngôi mộ của Mẹ Thạch nằm trên đồi Mã Thánh từ năm 1949 đến nay cũng phải dời về ở triền núi phía Ðông của thành phố. Người Mỹ cuốn chạy cuối tháng 4 năm 75 nay cũng đã trở về. Cộng sản vẫn còn ngự trị trên quê hương đất nước của Thạch. Ngày còn trong quân đội, Thạch mộng ngày giải ngũ về lập đồn đìên ở khu vực LaBa, Ðức Trọng với thú trồng trọt, chăn nuôi và săn bắn. Ít ai biết đến ở mảnh đồng bằng nhỏ ấy có một cái hồ nước trong vắt nên thơ và thanh tịnh. Bao giờ Thạch mới thật sự trở về với quê hương?  
Sau này, khi về lại chắc cũng chẳng còn sức để lập đồn điền nữa. Thực sự bây giờ Việt Cộng chỉ còn cái lốt vỏ Cộng Sản với quyền lực trong tay. Chúng đã biến dạng và càng cố bám vào Quyền lực để sống còn. Biết đến bao giờ chế độ náy mới thực sự sụp đổ để người Việt từ khắp nơi kéo về xây dựng lại quê hương hoặc chỉ sống nốt phần đời còn lại trong khiêm nhượng, an nhàn.  
Người Mỹ đã bỏ đồng minh ở Miền Nam tháo chạy. Nay họ đã trở về và còn bắt cầu cho kẻ thù cũ sang Mỹ làm ăn buôn bán trong "Diễn biến Hòa bình". Có lẽ, trong sâu kín, không ít người người Mỹ chờ đợi ngày tàn của kẻ thù đã làm ô uế lịch sử đấu tranh của cường quốc Hoa Kỳ.  
Căn nhà của vợ chồng đứa cháu của Quyên nằm chênh vênh trên ngõ dốc dẫn xuống thung lũng ấp Xuân An ngày xưa, bên dưới chân khu Tòa Hành Chánh vốn là Tòa Ðại Biểu Trung Phần dưới thờ vua Bảo Ðại. Phiasau nhà, hai vợ chồng lại còn nối ra căn chái làm chuồng nuôi gà kiếm thêm lợi tức.  
Hai Dì cháu quấn quít bên hau. Thạch đứng ngoài cửa nhìn xuống khu rừng dưới sâu cố hình dung những con đường mòn luồn lách ngày xưa đã in vết chân tuổi nhỏ vào những năm 49, 50. Những ngày nghỉ học, Thạch thường buồn tình đi lang thang quanh quất trong khu rừng này với dòng suối nhỏ chãy róc rách bước qua địa phận của Khu trường đạo Adran.  
Khi đói lòng, Thạch tẩm mẩn đi tìm hái trái cây ỏõ mát mát õõ màu tím sậm khi đã chín hoặc trái sim rừng. Có khi cậu bé 12 tuổi cũng tìm cách bẫy chim làm thịt ở bờ suối rồi đốt lửa xiên que nướng. Bây giờ cánh rừng sâu trong mộng ấy đã lẫn chìm giữa nhà cửa xóm làng mới cất vây quanh.  
Trở lại tiệm bán hàng của cô em, Thạch kéo chiếc ghế ra ngồi trước cửa hi vọng nhìn ra người quen cũ trong đám đông qua lại trên đường phố. Chẳng còn ai. Một số đã mất trong chiến tranh. Một số đã ra đi khỏi nước. Một lớp người cư dân mới đã trở về từ sau 75. Thạch rủ Quyên đi dạo một vòng phố xuống khu chợ Hòa Bình. Thạch chỉ bậc cấp lên rập hát hồi xưa lúc còn chợ cũ, chàng thường ghé mua gói xôi nhỏ ở mấy gánh hàng hai bên. Xôi nếp bắp, Xôi đậu đỏ, đậu đen với ruột dừa nạo từng sợi nhỏ máu trắng. Ðó là những món xa xỉ đối với cuộc đời của đứa bé mồ côi mẹ. Rồi đến những năm lên Trung học. đi bộ từ đường Võ Tánh về Hàm Nghi, qua chợ, xuống dốc cầu Ông Ðạo, bọc theo vòng hồ qua sân vận động mới thấy nóc nhà ẩn hiện sau rừng thông. Ngày nắng cũng như ngày mưa. Ðội mưa về đến nhà lột quần áo ra vắt khô treo lên rồi sáng mai mặc vào lại. Tháng 12 trời lạnh cũng chỉ có chiếc áo kaki phong phanh. Khi trời trở gió, vừa chạy vừa ôm hai tay trước ngực. Thỉnh thoảng nhớ Mẹ, Thạch đi bộ tuốt lên ngọn đồi Mã Thánh tìm được mộ Mẹ rồi ngồi một bên, mắt nhìn về hường Phi trường Cam Ly mơ một ngày cất cánh bay qua rặng núi xanh mờ mịt ở cuối chân trời tím ấy.  
Những năm trong trường Võ Bị, khác với bạn cùng khóa, Thạch không đi lòng vòng rồi ghé càphê Tùng, phở Bằng, phở Tín hay ngồi tiệm "Au Chic Shangai". Thạch ghé nhà đám bạn cũ ở quanh thành pjhố nhỏ đã quen thuộc từ ngày có trí nhớ. Hơn ba năm tôi luyện, Thạch đã trưởng thành với Võ nghiệp. Tình yêu vào thuở ấy thấp thoáng như bóng mây bay. Như bạn bè cùng lứa tuổi lớn lên trong Miền Nam vào thời nền Ðộc lập còn non nớt, Thạch mang đầy lý tưởng ào ạt tiến ra mặt trận. Chàng đã mang vết thương cả trên thân thể gầy còm và trí não mệt mỏi. Thành phố quê hương nhỏ bé của Thạch vẫn còn đây với bao nhiêu kỷ niệm và nhớ thương đầy ắp. Lá chỉ rụng về cội khi trời yên gió lặng. Ðời của Thạch đã quay cuồng trong giông tố đầy hãi hùng. Thạch đứng ở đầu dốc Minh Mạng chỉ cho Quyên con dốc Nhà Làng ẩn khuất sau hai dãy phố bán buôn. Con đường lót đá gồ ghề ấy đưa bước chân Thạch từ trường Tiểu học Ðàlạt về qua chiếc cầu đúc trên con suối nhỏ chảy về thác Cam Ly lên dốc ngang bệnh viện để về căn nhà nhỏ xíu của người cậu ruột ở nhà Ðoan những ngày ở tạm, khi mẹ của Thạch vừa mât.  
Con dốc nhỏ từ chợ đổ xuống cầu Ông Ðạo ngày xưa có hai hàng cây Mai già gốc rễ sần suì với hoa năm cánh màu hồng thắm nở rộ vào mùa Xuân. Trái chín đen có vị khá ngọt cho tuổi thơ của Thạch.  
Trên ngọn đồi soai soải trước mặt chợ Hòa Bình giáp với Hồ Xuân Hương, trước kia là nhà tù. Lớn lên, Thạch đã từng nghe người lớn kể chuyện Võ Phi Hổ của thời chống thực dân Pháp đã phi thân qua tường cao trốn thoát nửa đêm. Kế đấy là ngôi biệt thự đồ sộ của Bảy Viễn, của đám Bình Xuyên dựa vào thế lực của mật thám Pháp hoành hành tại sòng bạc Ðại Thế Giới và ở Sàigòn Chợ Lớn. Con đường trước mặt khu Hòa Bình dẫn vòng qua ấp Ánh Sáng đến cầu Bá Hộ Chúc lên khu Pasteur và Biệt Ðiện Bảo Ðại số 1.  
Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam trận chiến chỉ xảy ra một lần vào Tết Mậu Thân 68. Lực lượng nhỏ yếu của Việt Cộng len lỏi về tận khu Hòa Bình. Chỉ một ngày sau chúng bị đánh đuổi chạy về miệt Ðankia, Suối Vàng là trục lộ cũ nối liền Ban Mê Thuột từ thời Pháp cai trị. Còn lại chỉ đôi ba vụ pháo kích từ Suối Tía vào khu Hành Chánh hoặc gây rối ở miệt Cam Ly Thượng. Người Ðàlạt vẫn sống ung dung trong suốt 10 năm cao điểm của chiến tranh.  
Sáng ngày hôm sau,Thạch đưa Quyên đi ăn mì Quảng bên hẻm đầu đường Duy Tân. Tô mì trong trí nhớ của hơn 30 năm trước gây ấn tượng khiến Thạch luôn nghĩ không làm sao có tô mì Quảng ngon như chiếc xe bán mì ở một ngõ hẻm nửa đường Phan Ðình Phùng vào cuối dốc Minh Mạng. Người em rể đã sốt sắng lái xe đưa Thạch và Quyên đi thăm mộ ở Trại Mát. Quyên tỏ vẻ thích thú ở khúc đường vòng trên núi cao nhìn xuống Hồ Than Thở dẫn về Trạm Hành Ðơn Dương. Ở mỏm một ngọn núi cao nhìn xuống thung lũng sâu xanh thẫm một màu rừng thông là một ngôi biệt thự bỏ hoang với danh xưng là "Gió Hú" (Hurle vent). Thạch và đám bạn Hướng đạo ngày xưa đã dừng lại ở đấy, đứng nghe gió rít qua lũng sâu liên tu bất tận.  
Từ trên mặt đường ở Trại mát nhìn về hướng Nam, Thạch đã thấy nhóm kiến trúc của khu mộ gia đình nằm ở lưng núi với rừng thông thưa thớt. Bên dưới thung lũng với dòng suối nhỏ là vườn rau bắp cải, cà rốt, khoai tây. . . .  
Xóm nhà vách ván mái tôn lưa thưa trên các sườn núi chen lẫn trong vườn cà phê, mận, khi có tin chính quyền Cộng sản bắt dời mộ ở Mã Thánh, Thạch đã nhờ đứa em khác mẹ bốc cốt mẹ của chàng và sau cùng đã đưa về an táng nơi đây. Quê Mẹ của Thạch ở tận Nha Trang và bà đã an nghỉ trên thành phố núi này từ năm 1949.

Thạch và Quyên chia sẻ bó hoa và thắp nắm nhang trên mộ của mẹ ruột, mẹ ghẻ và đứa em gái vắn số không khỏi ngậm ngùi cho số phận lưu vong của chính mình nay đã gần cuối cuôỳc đời.

Bên ngoài, trên con đường trải đá đầy những hố sâu do nước mưa xoáy cuốn đang được trải nhựa. Vẫn còn nguyên chiếc xe với thùng hắc ín đun chảy bằng than củi và nhân công cặm cụi dùng hai tay tạt từng sô nhựa nóng bỏng xuống mặt đường. Chiếc xe ỏõ hủ lô ỏõ cổ lỗ đơn độc lăn bánh nặng nhọc. Thạch ngỡ như mình sống lại thỡi, 50 vào đầu năm của thế kỷ thứ 21. Hơn 26 năm qua với chính quyền trong tay, người Cộng sản đã làm gì để đất nước còn sống trong lạc hậu, nghèo nàn.

Chỉ sau một mùa mưa, con đường sẽ trở nên loang lổ như bao giờ. Tất cả sẽ cuốn trôi theo dòng nước lũ.

Thạch tưởng như quê hương mình đã mất dù chàng đang đứng ở nơi này. Thạch vẫn ấp ủ trong lòng ngày trở về khi đến tuổi về hưu ở bên Mỹ. Chàng muốn sống tuổi già giữa đồng bào ruột thịt nơi quê cha đất tổ. Một cuộc sống đạm bạc nhưng giàu tình nghĩa. Còn hơn phải lây lất nơi xứ lạ quê người.

Quyên bảo Mạ đã ngoài 90 tuổi. Bà không còn sống được bao lâu nữa.Sau này em cũng không muốn về sống ở Huế, chắc sẽ phải theo Anh vể Ðàlạt.

Thạch vẫn còn lấn cấn chưa biết tính sao. Không thể ở Saigon được. Thành phố này đã bế tắc, hết thuốc chữa rồi. Gia đình bên Ngoại của Thạch ở Nha Trang cũng chẳng còn ai ngoài bà Dì Út đã cao tuổi.

Trên chuyến xe về lại Saigòn, Thạch và Quyên lấy hai ghế phía trước trên chiếc xe buýt cỡ lớn thông dụng ở ngoại quốc để cố thu những hình ảnh còn lại trên trục đường thân quen ngày xưa. Chẳng còn gì để ngắm nhìn. Hai bên đường nhà cửa xóm làng đã mọc lên san sát.

Những tảng đá xanh khổng lồ chồng lên nhau đã chìm khuất trong phố chợ tỉnh lẻ hỗn tạp. Nhân công đồn điền quốc hữu hóa đã cố ỏõ cải thiện ỏõ với những luống khoai mì, bắp dọc hai bên lề đường giáp với vườn cây cao su.

Ai cũng tất bật với miếng cơm và manh áo trong thời kỳ đổi mới của chính quyền Cộng Sản đã lỗi thời còn ngoan cố bám víu.

Trở về Saigon, nỗi niềm bất ổn chợt dấy lên trong tâm tư của Thạch. Sau 9 năm tù tội khổ ải, bây giờ gặp lại tình yêu như cây khô được cơn mưa tươi tắm làm sống lại bao nhiêu cảm giác tưởng đã mất đi rồi.

Lòng Thạch cứ bứt rứt khi nghĩ đến chồng của Quỳnh Hoa còn trong trại tù Long Khánh. Dù gì anh cũng là chiến hữu của Thạch đang còn bị ỏõ ngã ngựa ỏõ Thạch thấy không ổn khi chợt lóe lên ý nghĩ chiếm đoạt vợ của bạn mình. Chính bản thân mình mới ra tù cũng còn vô định, long đong. Còn vợ con của Thạch bên Mỹ. Tất cả quay cuồng trong đầu óc vốn đã nát banh sau những năm dài trong tù Cộng Sản. Thạch đã thiếu bổn phận làm cha trong suốt những năm miệt mài với đơn vị ngoài hành quân. Lương tâm bây giờ càng thêm ray rứt. Dù cuộc tình của Thạch và Quỳnh Hoađã làm vơi nhẹ đi bao nhiêu phiền muộn, uất ức và đau khổ đã chất chứa trong lòng của Thạch từ sau ngày mất nước điêu linh.  
Thạch nhất quyết phải tìm đường vượt biên, dù có chơi một canh bạc ỏõ Nhất Chín Nhì Bù ỏõ. Không thể nào sống nổi trong chế độ hà khắc, vô nhân tính của Cộng Sản. Lúc này vượt biên là lối thoát sau cùng và duy nhất để làm lại cuộc đời. Dù gì đi nữa, Thạch cũng còn nợ đời phải trả. Thà chết trôi dạt ngoài biển cả còn hơn tiếp tục cuộc sống vất vưởng dật dờ như hiện nay.  
Ðến ngày hẹn, Quỳnh Hoa về lại Saigòn. Thạch mượn được chiếc xe gắn máy đóng vai người lái xe ôm đón nàng ở bến xe Miền Ðông. Vừa ghé mông ngồi lên yên sau, Quỳnh Hoa đã âu yếm hỏi:  

- "Anh có nhớ em không nào ?".  
- 
"Nhớ em từng phút lại từng giây . . . "

Nàng đấm thụi vào lưng Thạch, ra vẻ giận dỗi: "Anh lúc nào cũng đùa với nghịch".

Thạch buông tay trái nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của nàng đang ôm vòng theo hông, không nói gì. Niềm cảm thông giữa hai người tình cũ như đã chan hòa giữa dòng đời tất bật. Im lặng để giao cảm giữa hai con tim đang cùng nhịp đập. Quỳnh Hoa tiếp lời thỏ thẻ:

- Em muốn về lại ngay Sàigòn khi anh rời Ðalạt. Nhưng hàng chưa có lại chưa thu đủ tiền nên đành chịu. Bây giờ anh cho em về nhà. Sáng mai em sẽ gặp lại anh.  

Sau khi bỏ Quỳnh Hoa xuống bên lề đường cách nhà nàng mấy căn trên Gò Vấp, Thạch quay đầu về cư xá Thanh Ða để trả lại chiếc xe. Từ đó, Thạch lên xe đạp chạy lòng vòng qua Phú Nhuận rồi Ngã Ba Ông Tạ, Phú Thọ. . . như con thuyền trôi dạt giữa dòng nước mênh mông. Lòng dâng lên nỗi vui buồn lẫn lộn.  

Thành Phố Sàigòn nay đã trở nên xa lạ.

Chiếc ghe vượt biên của Thạch bị chết máy lần thứ hai khi mọi người trên sàn ghe thấy đất đảo ở cuối đường chân trời. Sợ bị trôi dạt, chủ thuyền đã buông neo chờ sửa máy. Ai còn tỉnh táo cũng tỏ vẻ nôn nóng, mừng lo. Không bao lâu, một chiếc ghe đánh cá treo cờ Nam Dương xuất hiện xăm xăm chạy đến. Mọi người bừng tỉnh reo hò như gặp cứu tinh. Ngay sau khi hai chiếc ghe vừa cặp hông, một người Nam Dương vạm vỡ với màu da nâu sậm nhảy sang thuyền của Thạch. Chủ ghe và một số người trẻ thân tín tiến ra đón. Dù ngôn ngữ bất đồng, nhưng chỉ một lúc sau, người có vẻ đứng ra tổ chức chuyến vượt biên, nói lớn bằng tiếng Việt giọng Tàu lơ lớ:

"Bà con ai còn giữ tiền Việt Nam đưa ra hết cho người ta để họ kéo ghe mình về đảo".

Thế là những người đàn bà, đàn ông ra vẻ sốt sắng lục lọi túi quần áo móc ra từng nắm tiền ỏõ Già Hồ ỏõ ném vào chiếc nón lá để ngửa trên sàn ghe. Nón lá đã đầy vung tiền giấy nhưng trông thái độ người đáng cá Nam Dương chưa vui. Lại quơ tay quơ chân thương lượng. Nghe nói hắn lấy thêm được vài chỉ vàng và một thùng ỏõ Phuy ỏõ dầu máy còn nguyên rồi mới chịu cột dây kéo. Sau này, trên đảo còn nghe nói chủ ghe Nam Dương còn được tổ chức Liên Hiệp Quốc cấp thưởng cho một số tiền khi cứu ghe Tị Nạn trên biển. Chẳng ai quan tâm đến chuyện ấy. Thế mà mãi đến khi trời sập tối hẳn, chiếc ghe mới cặp bến cảng của đảo Sian Tan. Líng Nam Dương trên đảo mặc thường phục với súng ống ra đón tận cầu tầu và ra lệnh mọi người xếp hàng lên bờ trong trật tự. Ðàn bà và trẻ con lên trước, ai đi lính phải khai báo ngay khi lên bờ, bất luận lính Miền Nam hay từ Miền Bắc. Trong ánh đèn điện lù mù, tất cả hơn 100 người được lùa vào một ngôi nhà có vẻ như quân sự. Mọi người đều bị lột quần áo để khám xét. Thủ tục an ninh kéo dài đến tận khuya. Lúc ngồi ngủ gà ngủ gật, tựa lưng vào tường nhà ngoài sân trống, Thạch được đánh thức khi tới phiên vào ỏõ thẩm vấn.  
Ngay khi bước vào phòng, nhìn thấy người ngồi sau chiếc bàn trơ trụi có vẻ mặt rắn rỏi với đầu tóc cắt ngắn như cạo trọc, Thạch bạo dạn lên tiếng hỏi trước bằng Anh ngữ:  

- Anh là Thủy Quân Lục Chiến ?
- 
Sao mày biết ?
- 
Theo tao, ở đảo nếu không phải là Hải Quân thì cũng là Thủy Quân Lục Chiến. Mày có vẻ Thủy Quân Lục Chiến hơn !

Hắn cười xòa, nói:  

- Tao là Trung Úy Atameh TQLC Nam Dương.  
- 
Mày có biết Trung Tá Harman Mujirun không ?

Hắn có vẻ ngạc nhiên, Thạch nhắc lại là Trung Tá Herman Mujirun. Hắn vui vẻ đáp:

- Bây giờ ông ta là Trung Tướng Tư Lệnh TQLC Nam Dương.

Thạch giải thích:  

- Tôi là bạn cùng lớp với ông ta lúc theo học ở trường Chỉ huy và Tham mưu TQLC Hoa Kỳ ở Quantico năm 1972-73.

Hắn nhổm người đứng lên đưa tay bắt và nói "Welcome".

Thạch tiếp lời :  

- Tôi nhờ anh vui lòng đưa tin cho ông ta biết tôi là Cựu Thiếu Tá Thạch bạn cùng lớp đã chạy khỏi Việt Nam đến đây rồi. Thế thôi.

Ngay sau đó, Thạch được chỉ ra phía sau nhập với đám đông đã được ỏõ thanh lọc ỏõ Ðang loay hoay tìm chỗ ngủ trong mấy lớp học của một ngôi trường nhỏ trên đảo. Ngày hôm sau, khi đã dò hỏi vị trí nhà Bưu điện của Ðảo gần ngay đấy, Thạch đã lận lưng lấy ra khâu chỉ vàng ra chợ đổi được 16 ngàn tiền Nam Dương rồi chạy sang Bưu Ðiện gửi điện tín sang Mỹ tin cho gia đình biết. Ðiện tín viết ngắn gọn bằng Anh Ngữ cũng tốn mất 11 ngàn. Hai ngày sau, mọi người trên chuyến vượt biên được đưa xuống một chiếc tầu sắt lớn chuyển về đảo KUKU dành cho dân Tị nạn.

Ðo này do một viên Thiếu Tá Hải Quân Nam Dương chỉ huy với chừng một Ðại đội Thủy Quân Lục Chiến. Dọc theo bờ biển vắng nằm ngổn ngang cả chục ghe vượt biên đã bị đục phá hư hỏng. Ðược xếp vào ở chung với những người khác trong một căn nhà mái tôn dài như trại lính, Thạch đã nhập khẩu phần ăn vào với một gia đình nhỏ cho tiện nấu nướng. Hàng ngày cứ ra biển ngồi ngó mông lung và đầu óc trống rỗng. Trong túi bị mang theo khi vượt biên Thạch còn chiếc quần Jean và cái áo thung mua bên Mỹ hồi du học, định bụng khi nài định cư sẽ lôi ra mặc cho tươm tất một chút. Trên chuyến vượt biên có hai nhóm tụ tập với nhau. Nhóm của chủ ghe tổ chức với lái tàu, thợ máy có một khẩu Carbine M.1 do người con trai trước 75 đi lính Nghĩa quân dấu được với vài băng đạn.  
Khẩu súng đã được trình nạp khi lên đảo. Nhómthứ hai gồm người của Võ đường VOVINAM đã đứng ra tổ chức vượt biên với nhiều thanh niên và thiếu nữ khỏe mạnh. Thạch trơ trọi một mình khi xuống ghe. Vợ con của Thạch đã vượt biên sang được đến Mỹ từ năm 78. Ði tù cải tạo về độ một tháng, vào đầu năm 84, Thạch tìm đường ra biển dù còn đang chịu dưới sự quản chế của Công An Phường. Qua giới thiệu của gia đình, Thạch may mắn gặp được một người tự xưng là Thượng Sĩ gốc Thiếu Sinh Quân Vũng Tầu. Sau một lúc dò xét, tin cậy được, Thạch đã không giấu giếm lý lịch và cho biết hoàn cảnh mình. Người cũng thật lòng nói rõ mình nằm trong tổ chức vượt biên do một người Cậu hiện là Ðảng Ủy ở Quận 4 của Sàigòn. Anh dặn Thạch tìm mua bộ đồng phục công nhân ( ngoài Bắc ) màu xanh đậm để mặc khi xuống ghe . Anh hứa sẽ đích thân đưa Thạch xuống ghe ( đậu ở cầu Tân Thuận ) và giới thiệu như công nhân dưới ghe. Nhờ đó Thạch đã thoát được cảnh nằm ém dấu ở mấy sông lạch bên Cần Ðước chờ di chuyển đến điểm hẹn lên tàu.  
Một nửa số nằm chờ như thế đã bị rơi rớt lại vì bị phát giác hoặc chậm trễ. Có khi bị lừa gạt nữa. Ghe của Thạch rời bến ngay tờ mờ sáng ngày lễ Lao Ðộng 1/5, suôn sẻ ra bến Cần Giờ và vào hải phậm Quốc Tế vào giữa trưa. Nhưng, đến rạng ngày thứ hai ghe lại đâm đầu vào Phú Quốc do nhìn theo hướng của chiếc ỏõ Hải bàn ỏõ dởm mua ở Chợ Lớn. Ghe đánh cá có trang bị vũ khí nhỏ của Việt Cộng ào ra đuổi bắt, nhưng chiếc thuyền của Thạch đã kịp thời quay đầu chạy trối chết. Chạy hết tốc lực như thế khiến cho ghe chết máy vào ngày hôm sau ở giữa đại dương. Sửa chữa xong, ghe chạy về hướng Nam như yếu hẳn. Trên hải phận quốc tế, gặp tầu nào cũng vẫy gọi kêu cứu. Ai cũng lờ đi. Cuối cùng vào trưa ngày thứ hai, một tầu hải dương của Nam Dương dừng lại. Từ trên boong tầu sắt cao nghệu, người thuyền trưởng bắt loa nói xuống. Nghe mọi người trên ghe la lớn ỏõ cần có người biết nói tiếng Anh lên boong ỏõ, Thạch nhanh nhẩu chạy lên. Dù đã du học một năm bên Mỹ, khả năng Anh ngữ của Thạch cũng đã bị thui chột và han rỉ sau 9 năm tù đày từ Nam ra Bắc.

 Lưỡi cứng và ngọng nghịu, Thạch củng cố nói lên được và nghe được tiếng Anh với vị Hạm trưởng Nam Dương.

Ông ta cho biết là chính phủ Nam Dương không cho phép vớt ghe vượt biên, nhưng ông ta sẵn lòng cho người xuống xem lại máy móc và tiếp tế dầu cặn cùng nước uống và thức ăn ngắn hạn. Từ vị trí này, chiếc ghe của Thạch của Thạch chỉ chạy thêm 2, 3 tiếng đồng hồ nữa sẽ đến hòn đảo gần nhất của Nam Dương. Khi tự xưng lý lịch, Thạch đã có ý định xin một mình đeo dây lên chiếc tàu buôn rồi lại thôi. Ngay sau đó, một người thợ máy Nam Dương đã theo thang dây xuống ghe xem xét máy móc rồi vội vàng trở lên ngay. Người hạm trưởng giữ lời hứa đã cho thả xuống ghe của Thạch một thùng ỏõ fut ỏõ dầu cặn 200 lít và thức ăn khô với nước uống. Ðám tổ chức vượt biên và chủ ghe đã vội cho người giữ rịt và chuyển cất giấu dưới lòng ghe. Khi thương thuyền Nam Dương chuyển đi và chiếc ghe vượt biên nổ máy chạy theo hướng được người Hạm trưởng cho tin, Thạch ngóng mãi chẳng thấy ai buồn tìm đến cho một ly nước hay một miếng bánh. Do chiếc haỉ bàn "dởm", hoặc người lái không kinh nghiệm, chiếc ghe của Thạch chạy mịt mù giữa biển cả mênh mông thêm hai ngày nữa. Mãi đến trưa ngày thứ sáu, từ ngày rời bấn cầu Tân Thuận Sàigòn chiếc ghe mới gặp được ghe đắnh cá của Nam Dương kéo vào đảo Sian-Tan.

Nhóm vượt biên được đưa về đảo KUKU được hai tuần lễ rồi tất cả lại xuống tàu lớn đưa về đảo GaLang là nơi tập trung người vượt biên của Việt Nam. Chuyến hải hành tuy dài nhưng trông ai cũng phấn chấn do lòng tàu sắt rộng rải, thoáng mát,sạch sẽ và được cung cấp thức ăn với nước uống đầy đủ. Sau vụ được tiếp tế ngoài biển, Thạch buồn tình chẳng muốn làm quen và tiếp xúc với ai trên tàu. Chàng tìm một góc nằm suy nghĩ vẩn vơ. Quãng đời đầy gian truân khổ ải từ sau ngày Miền Nam sụp đổ, qua các Trại Tù Cải Tạo từ Nam ra Bắc lần lượt trở lại trong tâm trí như những khúc phim đen trắng đầy kịch tính với tủi hờn đau đớn từng ngày, từng tháng cho đến gần trọn cả chín năm.  

Khi nghe tiếng người lao xao, gọi réo báo tin tầu sắp vào bờ, Thạch cũng không buồn đứng dậy. Ðúng như câu "mặc cho con Tạo xoay vần".

Tầu vừa cặp cầu, mọi người đổ xô chen nhau như muốn vội chạy lên bờ cho quên những ngày dài vô vọng giữa đại dương mênh mông. Chợt có một người trẻ, Thạch có dịp nói chuyện lúc lên đảo Sian Tan, chạy đến kéo Thạch dậy, nói:  

- Trên cầu tầu, người ta bắt loa kêu gọi anh lên ngay kìa.

Thạch còn ngẩn người chưa biết gì, cậu ta tiếp:  

- Họ bảo dưới tàu này có ai tên Trần Ngọc Thạch, Sĩ Quan TQLC, lên bờ trước. Phái đoàn Mỹ đang chờ đó. Lẹ lên đi anh.

Bản tính vốn điềm đạm, Thạch ngồi dậy quẩy túi xách lên vai, thong thả đi lên mũi tầu. Mọi người đứng lố nhố đã tự động mở đường ra cho Thạch. Ai cũng nhìn chằm chặp. Có kẻ cười như muốn chia sẻ niềm vui. Có tiếng người nói lớn cho mọi người nghe:  

- Chắc ổng làm Sịa ( CIA ) cho Mỹ nên mới có phái đoàn Mỹ chờ trên cầu tầu.  
- 
Nghe nói là Thiếu Tá, Trung Tá gì đó của Thủy Quân Lục Chiến. Thứ dữ mà.  
- 
Sao ổng đi có một mình dzậy ?  
- 
Sịa thứ thiệt đó. Chớ không phải giỡn đâu.

Thạch cứ tỉnh như không. Ðời chàng đã quá từng trải. Chai lì và cứng cõi. Chàng thầm nghĩ chắc tên bạn học ở Quantico là Herman Mujirun can thiệp khi được tin. Bây giờ hắn đã lên Trung Tướng làm Tư Lệnh TQLC Nam Dương. Còn mình là thằng lính thất trận và thằng tù không Mang án đi vượt biên. Khi đặt chân lên cầu tầu ở đảo Galang, Thạch thấy một người Mỹ mặc thường phục bước xuống chiếc xe Jeep đi tới. Ông ta đưa tay ra bắt và hỏi ngay:  

- Ông là Trung Tá TNT. TQLC Việt Nam?
- 
Vâng, chính là tôi.  
- 
Welcome ! Tôi là Alan Barr, chúng tôi được lệnh đón Ông và lập thủ tục phỏng vấn ngay để đưa lên chuyến bay đi Mỹ gần nhất.

Một người Việt trẻ đi theo có vẻ như thông dịch viên, nở nụ cười tươi và gật đầu nói:  

- Chào Anh. Mừng Anh đã thoát nạn !

Thạch bước lên xe ngồi ở ghế trước, trong khi Alan Barr lái xe. Bao nhiêu con mắt tò mò nhìn theo từ đám đông tụ tập ở cầu tầu. Khi vào văn phòng của Phái Ðoàn Hoa Kỳ, Alan Barr mời Thạch ngồi xuống với một lon ỏõ Coke ỏõ còn mát lạnh. Người Trưởng Phái Ðoàn Mỹ đẩy vô phía Thạch một tập hồ sơ đã mở. Thạch nhìn thấy ngay bức ảnh màu bán thân chụp lúc nhập khóa Chỉ Huy và Tham Mưu của TQLC Hoa Kỳ tại Quantico, Virginia vào tháng 8-1972 cùng với hàng chữ đánh máy chi chít.  
Thạch hết sức bất ngờ. Mỹ đã có sẵn hồ sơ và hồ sơ chuyển quá nhanh ngoài sức tưởng tượng. Sau nửa tiếng đồng hồ trao đổi về chuyện đi tù, vượt biên và thời gian một năm đi học bên Mỹ, người Trưởng Phái đoàn cho biết hôm sau Thạch được đưa đi Bệnh Xá để chụp hình Phổi và lập thủ tục Y khoa nhập cảnh Hoa Kỳ.  
Sau chín năm dài khắc khoải trong các Trại Tù Cải Tạo từ Bắc chí Nam, bỗng chốc niềm mơ ước như vô vọng không tưởng chợt trở thành sự thật ngay trước mắt và ngay trong tầm tay.  
Trở lại Hoa Kỳ sau hơn 12 năm lưu lạc, đọa đày ở ngay trên quê hương Ðất nước của mình. Và Mười Một ngày trên đảo.  
Hơn 10 năm sau, Quỳnh Hoa và chồng con cũng đã sang Mỹ theo diện H.O và được định cư ở một Tiểu bang của miền Nam Hoa Kỳ. Với tuổi đời đã chồng chất và sau cuộc thăng trầm bể dâu dưới chế độ Cộng Sản, nàng đã dễ dàng tìm thấy hạnh phúc gia đình với chồng con.

Qua điện thoại liên lạc viễn liên, có lần Quỳnh Hoa bảo:  

- Thôi bây giờ mình hãy quên hết chuyện xưa. Xem như một giấc mộng. Anh hãy xem em như em gái của anh là đủ vui rồi.

Quỳnh Hoa không có ý định trở về Việt Nam. Không còn ràng buộc gì và nàng đã quá ngán ngẩm cái xã hội bát nháo ấy. Trong khi Thạch vẫn mơ ước ngày trở về quê hương để sống những ngày còn lại trong lòng dân tộc. Chế độ Cộng Sản lỗi thời tất phải cáo chung. Chỉ còn thời gian thôi.

BACK