Ngày 17 tháng 2, 1988
K/G
Ban Tổ Chức
Hội Cựu SVSQ/TVBQGVN
Chi Hội Houston và Vùng Phụ Cận
P.O Box 75098
Thưa
Ban Tổ Chức,
Tôi cám ơn Ban Tổ Chức về nhã ý mới tôi tham dự
ngày Tết Gia đình Võ Bị của Quý Chi Hội. Vì lý do riêng, tôi không
thể đến được.Vậy tôi có thư này để cáo lỗi với Quý vị
và Ban Tổ Chức.
*
* *
Tuy nhiên, nhận thấy giữa Quý Chi Hội và cá nhân tôi hình như có
mối liên lạc tinh thần nào đó, tôi muốn nhân cơ hội này gửi đến
Ban Tổ Chức một vài nhận xét, có thể là "chủ quan" và
"sai lầm", nhưng đã được tôi suy tư với thiện ý san sẻ
với Quý Chi Hội.
Vì sự tình cờ gần đây, tôi được xem cuốn
video cassette về một buổi hoạt động của quý Chi Hội về đề
tài tìm hiểu sự việc đã xảy ra trước ngày mất nước.
Tôi nhận thấy có nhiều câu hỏi và giải đáp đứng
đắn, đáng được ghi lại để suy nghĩ. Nhưng cũng có nhiều vấn
đề cần được bổ chính lại cho đúng sự thực.
Dưới đây là số thứ tự vài vấn đề ấy,
-theo ký ức tôi chứ không chắc là thứ tự ghi trong cuốn băng-,
với nhận xét của tôi để Quý Chi Hội đọc và tùy nghi...
1. Sự "ước mơ" Sinh viên Võ Bị Ðàlạt theo gương Sinh viên Saint Cyr mang găng tay trắng, xung phong tấn công địch, để tạo nên truyền thống cho Trường Võ Bị.
*Nhận xét: Khi "ước mơ", ta tưởng tượng nhiều hơn suy luận. Có khi cần ước mơ để quên hiện tại đau buồn trước mắt. Nhưng kể lại sự ước mơ với dụng ý "so sánh" thì đương nhiên đã kéo ước mơ từ "lĩnh vực Tưởng Tượng" xuống "lĩnh vực Suy Luận" rồi, -nghĩa là không thể buông trôi cho tâm hồn lả lướt trong thế giới huyền ảo của mộng mị, mà phải sắp xếp nội dung sự ước mơ trong khuôn khổ thẳng góc, sắc cạnh của lý trí, để làm việc SO SÁNH.
* Vậy, nhận xét thứ nhất là KHÔNG THỂ SO SÁNH TRÁI TÁO PHÁP với
TRÁI CAM VIỆT NAM đưọc, vì thực chất và hoàn cảnh khác nhau.
Hãy bàn tới việc sinh viên Saint Cyr mang găng trắng
xung phong. Vì thiếu tài liệu Pháp để tra cứu lại, tôi đoán rằng
việc này xảy ra trong Thế Chiến I, trong trận phản công La Marne của
Pháp. Lúc bấy giờ Ðức đã chiếm hết vùng phía Ðông Bắc lãnh
thổ Pháp dọc con sông ấy và đe dọa Paris. Quân đội Pháp rút về
phía Tây bờ sông, đào chiến hào phòng thủ. Lệnh của Tổng Tư
Lệnh cho các đơn vị ở chiến tuyến này là phải tử thủ, để
hậu tuyến tổng động viên phương tiện chuyên chở chuyển quân
từ các nơi khác tới mặt trận La Marne tổng phản công. Có lẽ
sinh viên Saint Cyr đã được lệnh tử thủ một phần nào trên chiến
tuyến ấy. Dưới làn mưa đạn đại bác của Ðức yểm trợ cho
các cuộc tấn công của bộ binh, quân sĩ Pháp đã không ngớt nhảy
lên bờ chiến hào xung phong phản công địch. Hàng vạn người đã
chết, trong đó có mấy trăm sinh viên Saint Cyr, mỗi khji nhảy
lên chiến hào phản công địch, , đều mặc quân phục đại lễ,
tay mang găng trắng. Hình ảnh này đã viết lên một trang huyết sử
cho quân đội Pháp.
Xét cho kỹ, sở dĩ sự hy sinh thể hiện trong cái
hình thức "Cao Ngạo" này của sinh viên Saint Cyr, được sử
sách ghi nhớ và truyền tụng về sau, là vì sự HY SINH ẤY ÐÃ
GIÚP TẠO NÊN MỘT CƠ HỘI (=yếu tố thời gian) CHO PHÁP TỔNG PHẢN
CÔNG, XOAY CHIỀU HƯỚNG CUỘC CHIẾN ÐỂ CHIẾN THẮNG, như trường
hợp 300 chiến sĩ Hy Lạp tử thủ ở đèo Thermophyles cầm chân
5,000 quân xâm lăng trong gần 3 tháng. Trận La Marne quả thật đã làm
xoay chiều hướng Thế Chiến thứ I, như trận hải chiến Midway giữa
hạm đội Mỹ và Nhật ở Thái Bình Dương trong Thế Chiến thứ
II. Trái lại, nếu việc này xảy ra trong Thế Chiến thứ II, khi Ðức
Quốc Xã dùng chiến xa phun lửa, tránh pháo lũy Maginot, tấn công
chớp nhoáng Pháp qua rừng Ardennes, mà sinh viên Saint Cyr lại mang quân
phục đại lễ với găng trắng trên tay tấn công đoàn chiến xa,
thì họ chỉ làm một tác động ngông cuồng, bất trí và phí phạm!
Mà viên tướng nào ra lệnh cho họ làm việc này không giúp gí cho
công cuộc kháng Ðức của Pháp, trên phương diện chiến thuật,
chiến lược và tâm lý!
Cổ nhân vẫn nhắc người làm tướng phải thận
trọng khi sử dụng mạng sống thuộc cấp trên chiến địa.
"NHẤT TƯỚNG công thành, VẠN CỐT khô!". Ai lại nỡ
"ước mơ" xua đám đàn em măng sữa vào tử địa, với mục
đích duy nhất là tạo nên truyền thống?
*Nhận xét nữa, là nếp sống quân trường có nhiều sắc thái riêng
biệt với đời sống thực sự bên ngoài. Người sinh viên "tâm
hồn chưa lấm bụi trần", đầu óc chỉ hướng về sự tập
luyện và học hành, chưa có nhiều thì giờ và cơ hội để tính
toán hơn thiệt. Vì vậy, cái máy thâu thanh mà Thượng Ðế gắn
trong tâm hồn mỗi người để thậu nhận những âm ba vô hình những
huyền diệu về HY SINH, LÝ TƯỞNG, ÁI QUỐC, TÌNH HUYNH ÐỆ, TÌNH ÐỒNG
NGŨv.v...còn nguyên vẹn ở nơi họ, nên họ dễ rung cảm, sau sưa
trước những cái "ÐẸP", cái "HUY HOÀNG", cái
"SIÊU THĂNG".
Thêm vào đó, lại còn gương các THẦN TƯỢNG mà
họ đã chọn được trong Quân Trường, nơi ông thầy, nơi người
huynh trưởng, và ÁP LỰC TINH THẦN CỦA TẬP ÐOÀN (Peer Pressure)
khuyến dục họ PHẢI LÀM CHO ÐƯỢC ÐIỀU MÀ THẦN TƯỢNG HỌ LÀM,
hoặc ÐỒNG ÐỘI HỌ LÀM.
Bởi vậy, tôi không tiếc là Sinh Viên Ðàlạt đã
thiếu cơ hội mang găng trắng để chết anh hùng trong "cao ngạo".
Vì tôi tin rằng, trong những tháng mùa Xuân 75, nếu Chỉ Huy Trưởng
Trường Võ Bị Ðalạt nhận được lệnh tử thủ với Liên Ðoàn
Sinh Viên ở một chiến tuyến nào đó, ÐỂ MUA THÌ GIỜ CHO BỘ
TTM tổng phản công, và nếu vị Chỉ Huy Trưởng ấy DÁM QUÊN VỢ
CON, Ở LẠI CHIẾN ÐẤU VỚI SINH VIÊN, thì vì những lý do đã trình
bày trên đây, tôi TIN CHẮC rằng cả Thầy lẫn Trò đã anh dũng
chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng, để cùng chết, mặt hướng
về phía giặc!
Tôi dám tin như vậy, vì chính tôi, -người sĩ quan
trừ bị tầm thường này, -đã từng có nhiều dịp THOÁNG NHÌN THẤY
ÁNH HÀO QUANG CỦA ANH HÙNG HUYỀN SỬ trong con mắt của một số đàn
em tôi, lúc họ còn đang học để thành nhân!
*Một nhận xét nữa là Trường Võ Bị Ðàlạt không thiếu truyền
thống. Tiếc rằng ta không có bộ chiến sử để ghi lại những
chiến tích anh hùng ta. Nhưng cũng còn nhân chứng ghi lại những nét
vàng son về Trường Võ Bị. Ta hãy đọc 2 đoạn văn sau đây của
Phạm Huấn, cựu phóng viên chiến trường:
... "Tôi có thể quả quyết rằng, trong 20 năm
sau cùng của cuộc chiến Việt Nam, không một tướng lãnh nào khi
chỉ huy cấp trung đoàn và lữ đoàn, đã tạo được những chiến
công to lớn như ANh Hùng Nguyễn Hữu Thông K16 Võ Bị. Những tướng
cộng sản Bắc Việt chỉ huy Sư Ðoàn 320 Ðiện Biên Phủ, Sư Ðoàn
3 Sao Vàng, trong những năm 1973, 74 và 75, đã phải cúi mặt khi nhớ
tới những thảm bại nhục nhã do Trung Ðoàn 42 Bộ Binh dưới quyền
Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông giáng cho chúng tại Pleime, đèo Cù Nhông
và những ngọn đồi vô danh (82 và 174, Tây Nam Hoài Nhơn, Bình Ðịnh)".
... "Trong trận chiến sau cùng, các sĩ quan (Võ
Bị Ðàlạt) giữ những chức vụ trung đoàn trưởng, lữ đoàn trưởng...
đa số đều tự tử chết, -hoặc ở lại chiến đấu với những
chiến hữu của mình cho đến phút cuối cùng..."
(Phạm Huấn: NHỮNG ANH HÙNG CỦA QLVNCH)
2. "Giặc không giỏi, nhưng ta quá dở"
*Nhận xét: Ta nên hiểu nơi câu nói này cái ý nghĩa châm biếm,
tự chễ diễu mình của người nói câu ấy. Cứ nhớ lại những
việc ông ấy làm, -hầu như đơn độc vì ông tướng chỉ huy ông
đã đi đâu mất rồi không còn nghe nhắc đến, -cho tới phút cuối
cùng, đến nỗi ông chỉ còn đủ thì giờ chạy cứu lấy thân,
QUÊN CẢ VỢ CON, ta phải cúi đầu kính phục tinh thần trách nhiệm
của ông sĩ quan trung cấp ấy.
Ðó là thí dụ điển hình của 60-70% quân sĩ ta. Cái
đa số đáng kính phục ấy, -tuy đã từng bị lợi dụng, đối xử
tàn tệ và ngày nay bị quần chúng quên lãng, gồm có vài ba tướng
lãnh, một nửa số sĩ quan trung cấp, 70% các sĩ quan cấp nhỏ, hạ
sĩ quan và binh lính. Chính đám người này, đã cầm chân giặc cộng
suốt mấy chục năm trời. Họ không bao giờ "DỞ". Ít người
biết tới việc họ làm, bởi vì cơ quan thông tin truyền hình còn
không đủ thì giờ phái phóng viên đi "tháp tùng" các
"đại phu nhân" đi khai mạc phòng triển lãm hoặc chương
trình "nói" về họ?
Còn những ai "Dở Thật" thì tôi không muốn
lạm bàn. Vì từ ngày được giải ngũ theo đơn xin năm 1965, rồi
về làm cho một công ty dầu hỏa, tôi chỉ nhìn những cuộc xáo
trộn quanh mình để biết, mà không phê phán, rồi thỉnh thoảng
ngửa mặt lên trời cười hô hố một tràng, hoặc chạy ra vườn
nhổ bãi nước bọt, chửi thề rất tục một mình mà thôi!
3. "Hiến Pháp ta có ghi mục tiêu thống nhất 2 miền. Ta đã chiến bại vì không giám thực hiện mục tiêu ấy"
*Nhận Xét: Châm ngôn Pháp có câu nói: "Qui tient la bourse,
tient la vie" = Kẻ nào giữ tiền là kẻ ấy nắm trong tay sự sống.
Hiến pháp ta muốn ghi mục tiêu gì, là quyền của Quốc Hội ta.
Nhưng khi thực hiện mục tiêu, ta phải có tiền.
Từ ngày Miền Nam được khai sinh, ta luôn luôn ở
vào cái thế lệ thuộc vào ngoại viện, khởi sự từ Pháp rồi
chuyển sang Mỹ.
Ngay cả thời kỳ giới lãnh đạo ta còn "dám
nói chuyện ngang hàng phần nào" với Mỹ (thời Tổng Thống Ngô
Ðình Diệm), Mỹ đã giới hạn ngân khoản, sự tổ chức quân sự,
sự trang bị võ khí và ngay cả thuyết lý huấn luyện quân sĩ
trong quan niệm "Phòng thủ để bảo vệ vùng lãnh thổ từ vĩ
tuyến 17 trở xuống" mà thôi.
Khoảng 1955-1957, lúc tôi làm Trưởng Phòng Tổng
Nghiên Cứu và Kế Hoạch cho Bột TTM, tôi đã soạn thảo kế hoạch
"Trảm Xà" để Tướng Ðôn, hồi ấy là Tham Mưu Trưởng,
trình lên Tổng Thống Diệm. Kế hoạch này sẽ đem áp dụng trong
trường hợp địch tấn công đại quy mô. Trước hết, ta phòng thủ
cầm chân để tiêu hao sinh lực địch từ phía Bắc Bến Hải
sang. Dần dần, ta rút lui dọc theo Quốc lộ 1 tới nút chận ở đèo
Hải Vân. Lúc bấy giờ, ta sử dụng lực lượng đổ bộ 2 sư đoàn
xuống vùng giữa Vinh - Thanh Hóa, đánh mũi dùi từ biển vào đất
liền phía Tây, cắt đứt đường liên lạc và tiếp tế cho đoàn
quân chinh Nam của địch. Ðồng thời, ta sử dụng quân Dù nhảy vào
phía Tây Nam Vinh liên kết với quân đổ bộ để chặt đứt
"đầu rắn", đồng thời tổng phản công từ đèo Hải Vân
ra, thành 3 mặt giáp công. Kế hoạch này, ta cần sự yểm trợ của
không-pháo, phi cơ vận tải và hạm đội Hoa Kỳ.
Kế hoạch này sau đó được đem ra thảo luận với
đại diện MAAG (Military Assistance Advisory Group). Họ tán thành, nhưng
không dám quyết định viện lý do là tình hình những năm ấy chưa
nguy hiểm, và mọi việc sử dụng không quân và hải quân đại
quy mô trong 1 cuộc tấn công phía Bắc vĩ tuyến 17, phải được
Toà Bạch Ốc chấp thuận. Tôi tin rằng những năm 70, chắc Bộ
TTM cũng đã có những kế hoạch đổ bộ phản công đại quy mô hơn
kế hoạch "Trảm Xà" của tôi, nhưng có lẽ Tòa Bạch Ốc
không bật đèn xanh, nên ta chẳng thấy gì xảy ra cả!
Kể lại kế hoạch trên, để chứng minh rằng, Miền
Nam chúng mìnhcũng hiểu là: Biện pháp phòng thủ hiệu nghiệm nhất
là tấn công, và chiến thắng, tất phải tấn công vào chính trái
tim của địch.
Nhưng đồng minh ta, trong suốt thời kỳ giúp ta chống
Cộng, đã không có một chính sách về chiến tranh rõ ràng:
- "Ðánh để cầm cự ư?" -Nếu vậy, thì
phải nói lên với dư luận Mỹ là "Phe ta phải kiên trì",
sẵn sàng chịu tốn kém, không nề hà thắc mắc về tổn thất về
sinh mạng và dụng cụ, để gan lỳ đối phó với một chiến trường
tiêu hao! Rồi đừng than van chiến tranh vẫn ở mãi trong "đường
hầm, chưa thấy ánh sáng lóe ra"!
- "Hay là đánh để thắng" -Vậy, thì phải:
"dự trù các sự nguy hiểm có thể xảy ra" rồi tìm biện
pháp phòng ngừa hoặc đối phó. Các sự "nguy hiểm" ấy là:
sự đụng chạm với Nga - Tàu, -sự chống đối của phe phản chiến,
-gánh nặng tài trợ quân sự cho VN, -số thương vong binh sĩ Mỹ
trong 1 cuộc tấn công đại quy mô kiểu Inchon ở Triều Tiên trước
đây v.v... Rồi dám tấn công vào trái tim địch bằng một cuộc đổ
bộ đại quy mô, chứ không phải qua những oanh kích, mà tàu tình
báo Nga ở Thái Bình Dương, đã báo trước chương trình các chuyến
bay cho Hà Nội, từ 7 đến 10 giờ trước khi phi cơ cất cánh.
Nhưng, như ta đã thấy, Mỹ chỉ áp dụng một chiến
sách "sống từng ngày", -thụ động "đáp ứng"
nhiều hơn là "chủ động tấn công". Ðó là một lý do làm
ta chiến bại.
Nhưng còn rất nhiều lý do khác nữa, không thể nói
hết trong bài nhận xét này, chứ không phải vì ta quêm mục tiêu
thống nhất.
4. "Việc ta chiến bại, phải bỏ nước ra đi, là do Mỹ sắp xếp. Vậy ngày ta trở về phải do Mỹ quyết định"
* Nhận xét: Mệnh
đề thứ nhất đúng với sự thực. Mỹ giúp ta chống Cộng, mong
ta chiến thắng giữ vững quê hương ta. Nhưng vì thiêu chiến sách
thích hợp để đối phó với chiến tranh VN, với những sắc thái
đặc biệt của nó, Mỹ bỗng sinh ra mặc cảm tự ty và thụ động:
đối với dư luận nội bộ, -đối với Nga-Tàu, -trong việc dùng
phi cơ oanh tạc các mục tiêu chiến lược ở Bắc Việt, -đối với
dư luận quoấc tế: "cường quốc đi ăn hiếp tiểu nhược quốc"
(?!) v.v...
Gửi quân đi viễn chinh mà không dám ra lệnh
"PHẢI CHIẾN THẮNG" htì tất nhiên chỉ còn giải pháp
"RÚT LUI TRONG DANH DỰ". Chính đó là sự sắp xếp, bỏ lại
quân đội ta một mình.
Nhưng nếu đã nhận thấy như vậy, thì ta phải TỪ
ÐÂY HOÀI NGHI MỌI SỰ GIÚP ÐỠ CỦA MỸ, NHẤT LÀ TRONG NIỀM HY VỌNG
MÀ MỖI NGƯỜI CHÚNG TA ÐANG ẤP Ủ TẬN ÐÁY LÒNG: TRỞ LẠI QUÊ
HƯƠNG. Cớ sao lại phó mặc cho MỸ QUYẾT ÐỊNH?
Ta nên tự hỏi: Nếu Mỹ giúp ta như vậy, có LỢI
ÍCH GÌ CHO MỤC TIÊU QUỐC GIA CỦA MỸ KHÔNG?
- Nếu quê hương ta có những mỏ
dầu lửa như Saudi Arabia thì ÐÃ KHÔNG BAO GIỜ CÓ NGÀY 3-4-75!
- Hơn nữa, Cuba là một cái ung
nhọt ngay sau gáy của Mỹ, mà từ gần 30 năm nay, Mỹ vẫn phải
chịu để yên, ở cái thế "CHẲNG ÐẶNG ÐỪNG" không làm
gì được!
- Thế thì mong gì Mỹsẽ làm cái
việc phiêu lưu giúp ta đổ bộ ở chân trời xa xăm kia?
- Mặt khác, hãy quan sát số phận
nhóm Contra bị Quốc Hội và dư luận Mỹ tung lên ném xuống như
chiếc mền rách, chỉ vì mấy chục triệu Mỹ kim, thì người sáng
suốt chắc phải suy nghĩ mấy trăm lần, trước khi đi xin, hoặc
ngửa tay nhận viện trợ Mỹ cho đại cuộc của mình.
Ðiều đừng bao giờ quên là: Quốc gia nào cũng có
mục tiêu riêng của họ. Nhiều khi trong một giai đoạn nào đó, mục
tiêu của một quốc gia này thích hợp với quốc gia kia; vì lợi ích
chung, họ trở thành "Ðồng Minh". Như Mỹ-Nga đã từng là
đồng minh chống Ðức-Nhật. Nhưng sự việc trên thế giới đổi
thay, kẻ KHÔN TẤT PHẢI TÌM LẤY HƯỚNG RIÊNG CỦA MÌNH MÀ ÐI. Vì
vậy, nay ta thấy nhiều quốc gia được gọi là "KHÔNG LIÊN KẾT",
chẳng đồng minh với Nga, mà cũng chẳng đồng minh với Mỹ.
* Nhận xét của tôi làm tôi rất lo ngại. Nhìn vào
bản đồ Á Châu ta thấy gì?
- Pakistan thân Mỹ, nhưng Mỹ không
giám viện trợ nhiều cho Pakistan vì sợ Ấn Ðộ phiền. Mỗi khi Mỹ
viện trợ cho Pakistan một thứ khí giới gì đặc biệt, là tuần
sau, Ấn Ðộ chạy sang Mạc Tư Khoa cầu thân, xin viện trợ, hoặc
vay mượn để mua loại khí giới ấy của Nga.
- Ở Việt Nam, Nga đang sử dụng
2 căn cứ chiến lược Ðà Nẵng và Cam Ranh để duy trì một sự
hiện diện võ trang hùng hậu ở Thái Bình Dương, trong khi Mỹ vẫn
phải lo rất nhiều về số phận các căn cứ ở Phi Luật Tân hầu
như được liên kết mật thiết với số phận chính trị của Tổng
Thống Aquino. Còn Việt Cộng thì càng ngày càng suy sụp, đang mở
nhiều chiến dịch tuyên truyền (du lịch về Việt Nam, khuyên khích
dân di cư gửi tiền về cho bà con...) và ngoại giao thân thiện vớo
Mỹ để cầu đô la.
- Từ những sự kiện ấy và đứng
trên phương diện "Lợi Ích Thực Tiễn", Mỹ và Việt Cộng
sẽ tìm cách "Tới Gần với Nhau", với mục đích:
a) Chế ngự
phần nào ảnh hưởng của Nga đối viớ Hà Nội vì nuế quá lệ
thuộc vào sự vinệ trợ tài chính v àkinh tế của Nga, Hà Nội sẽ
thành một "con cờ HOÀN TOÀN TRONG TAY NGA". Biết đâu Hà Nội
chẳng muốn trở thành một Yugoslavia (Cộng Sản) trung lập với
Nga? Nếu hiện tượng này xảy ra cũng có thể lmà Trung Cộng rất
hià lòng. Trung Cộng đang rất bực mình vì có một chư hầu của
Nga ngay sát cạnh mình.
b) Tiến đến
sự thành lập một vùng "Ðông Dương TRÁI ÐỘN" giữa Tàu
Cộng và Thái Lan thân Mỹ. Trên vùng này, Nga vẫn tiếp tục duy trì
sự hiện diện võ trang nhưng Mỹ cũng có thể gây lại thế đứng
đã mất từ 1975, bằng những liên lạc kinh tế, tài chính, y tế,
văn hóa v.v... nới rộng với Hà Nội.
Nhiều sự kiện xảy ra gần đây hình như cho thấy hiện tượng
trên đây đang thành hình dần dần: Việt Cộng cho phép 20,000 con nít
lai Mỹ xum họp. Lào trả lại hài cốt MIA's cho Mỹ. Mỹ kêu gọi
tư nhân viện trợ nhu phẩm nhân đạo cho Hà Nội. Hà Mội tuyên bố
thả tự do cho tất cả nhân viên trước đây phục vụ Chính
QUyw26n Miền Nam, và hứa sẽ cấp giấy cho họ xuất ngoại dễ
dàng v.v...
Chướng ngại vật lớn để hai bên tái lập bang
giao là sự hiện diện của Quân đội Việt Cộng ở Kampuchia. Sau
sự hứa hẹn của Gorbachev rút quân Nga khỏi Afghanistan trong vòng
10 tháng, kể từ 15 tháng 5 năm nay, cũng có thể Hà Nội sẽ công
khai tuyên bố rút quân về, trong những tháng, năm sắp tới.
Vậy, việc dự liệu hai bên tái lập bang giao có lẽ
không còn là một ý nghĩ lông bông nữa rồi!
Trong khi thế sự biến chuyển như vậy, ta nhận thấy gì xảy ra
trong tập đoàn người Việt tỵ nạn?
- TA ÐANG QUAN NIỆM LÊN NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH HẤP DẪN
VÀ TO LỚN, GỢI LÊN ÐƯỢC TIẾNG VỌNG SÂU XA TRONG KHÁT VỌNG QUẦN
CHÚNG RỒI NHẬN THẤY TA KHÔNG ÐỬ KHẢ NĂNG VẬT CHẤT, ÐỂ THỰC
HIỆN CHƯƠNG TRÌNH, ÐÀNH NGỒI CẮN XÉ, CHỈ TRÍCH NHAU HOẶC HY VỌNG
HÃO HUYỀN VÀO SỰ QUEN BIẾT CỦA MỘT VÀI NGƯỜI TRONG ÐÁM MÌNH ÐỂ
NGOẠI NHÂN GIÚP MÌNH, MÀ QUÊN 2 ÐIỂM CHÍNH YẾU:
- MỘT: NẾU GIÚP MÌNH THỰC
HIỆN NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH TO LỚN ẤY, NGOẠI NHÂ SẼ GẶT HÁI LỢI
ÐIỂN GÌ CHO MỤC TIÊU QUỐC GIA CỦA HỌ?
- HAI: CHÍNH TA ÐÃ CÓ MỘT
NỀN TẢNG TINH THẦN CỤ THỂ LÀM ÐIỂM SƠ KHỞI CHO HOẠT ÐỘNG
CHƯA, ÐỂ TA ÐỦ "CAO NGẠO" KHÔNG THÈM TRANH DÀNH NHỮNG TƯỚC
VỊ GIẢ ÐỊNH, - KHÔNG MƯU TÍNH TƯ LỢI KHI MỞ MIỆNG NÓI ÐẾN TỔ
QUỐC, DÂN TỘC, ÐỂ KHÔNG HÔ HÀO ÐOÀN KẾT MÀ LẠI CHIA BÈ, KÉO ÐẢNG,
ÐẢ KÍCH, BÊU XẤU LẪN NHAU!!!...
Thư đã quá dài ngoài ý định sơ khởi của tôi.
- Biết đâu những người, - nếu quả thật đã có
sẵn những mẫu số chung, - sẽ chẳng có cơ hội gẳp gỡ nhau
trong một môi trường khác?
Nhân dịp Xuân về, tôi chúc Quý vị trong Ban Tổ Chức, Quý Chi Hội Viên và Gia Ðình Mọi Sự May Mắn và Như Ý.
Trong
tình Huynh Ðệ,
Của Những Kẻ,
"CÙNG MỘT LỨA CHÂN TRỜI LẬN ÐẬN"
