Triết lý Nhân Sinh truyền lại cho Quân Trường

Ông Diệm trở thành Tổng Thống từ 1956. Quân Ðội có trên 200,000 người, 9 sư đoàn, không, hải quân, thủy quân lục chiến, nhảy dù, 4 Quân Ðoàn, ngoài 300,000 bảo an và địa phương quân. Mỹ tăng cường viện trợ nhiều hơn nữa. Tổng Thống rất chú trọng đến sự huấn luyện quân sĩ, vì tình hình đang yên ổn. Có một thế hệ sĩ quan thấm nhuần tư tưởng quốc gia, thao lược và học thức để bổ sung và thay thế thế hệ sĩ quan lớn tuổi, nhiều kinh nghiệm chiến đấu chỉ huy giỏi đơn vị nhỏ, nhưng chưa quen với đơn vị cấp sư đoàn trở lên, đó là mối ưu tư lớn của Ông. Mỹ đề nghị ông chọn sĩ quan xuất sắc, từ thiếu tá trở lên, mỗi năm VN được 7 người, gữi sang học trường Ðại Học Chỉ Huy và Tham mưu tại Mỹ, đào tạo chỉ huy trung đoàn, sư đoàn, quân doàn, đến lộ quân. Với tư cách Bộ Trưởng Quốc Phòng, Tổng Thống đích thân chọn danh sách. Năm 58, bảy người đưọc chọn, trong đó có mình. Khoá này lâu 18 tháng, vì gồm thêm chương trình tiếp vận, các khóa thường lệ không có. Tướng Kim cũng được chọn học khóa 6 tháng, khai giảng 3 tuần, sau khóa mình. Gặp nhau bên Mỹ, ai ngờ sẽ gặp lại tại Ðalat, năm sau. Tướng Kim tốt nghiệp về trườc, bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng trường Võ Bị Quốc Gia Ðalat. Mình, vì có bằng cử nhân, năm sau, bổ làm Viện Trưởng trường này. Lại nộp đơn xin giải ngũ, trường Nguyễn Bá Tòng vẫn liên lạc thối thúc, biết vẫn nghèo xác mồng tơi. Tổng Thống gọi ngay về Dinh, rút trong ngăn kéo ra một phong bì: “Tui biết anh nghèo, đây, cầm cấy ni, về tiêu tạm. Tui đi kinh lý Ðalat, nghe trình cấy trường chi nớ (thật ra là trung học công Trần hưng Ðạo) thiếu gíáo sư triết, cho phép anh đi dạy trong giờ làm việc, không cho phép giải ngũ, vì tui cần”. Bực mình nhưng cảm động, trả lại phong bì không đuợc, đành nhận, cám ơn, chào kính rồi bước ra. Ra xe, mở phong bì, thấy 35,000 bạc 5 đồng. Hiệu trưởng Trần Hưng Ðậo, không hiểu sao “linh cảm” nhanh chóng thế! 2 ngày sau, gọi điện thoại mời dạy triết 4 giờ mỗi tuần, một trăm, mỗi giờ. Tháng 11, 1960, xảy ra vụ đảo chánh hụt. Tướng Kim bị nghi liên quan, hình như phe đảo chánh có kế hoạch đặt ông làm Thủ Tướng ,nếu đảo chánh thành công. Tướng Kim bị cất chức, mình tạm quyền chỉ huy, kiêm Văn Hóa Vụ Trưởng. Tân khóa sinh chế độ canh tân, với chương trình văn hóa ngang năm thứ 2 Ðại Học dân sự, thời gian 4 năm thay vì 1 năm như từ truớc, trải qua 8 tuần sơ khởi. Trong số 300, ngày nhập trường, hơn 50 bị loại vì không đủ điểm trung bình. Quyết định xuất ngũ và lệnh trưng dụng phương tiện di chuyển cho những người phải ra về, dã ký xong và gửi về trường thi hành. Trước giờ lên tàu, một sinh viên thiếu may mắn ấy, gõ cửa xin vào gặp. Nhờ đó, được nghe sự bất công anh là nạn nhân của cán bộ từ 8 tuần nay. Hứa sẽ điều tra ngay, nhưng nói rõ là vì TTM đã ra quyết định rồi, thật khó mà làm gì khác hơn là sẽ dành một chỗ cho anh trong khóa tới, nếu quả thật anh bị oan. Anh liền chảy nước mắt cho biết là mồ côi, được một sư ông ở Huế nuôi đi học, tưởng là thành sĩ quan sẽ giúp lại mấy đứa mồ côi ông đang nuôi như anh. Anh biết lệnh đã ra, không thể thâu hồi lại, đời anh thế là hết. Nhưng anh không muốn sự bất công anh là nạn nhân còn hại thêm nhiều người nữa, nên mới liều đến nói sự thật. Mình cũng khóc, đứng đậy cầm vai anh, hứa sẽ làm sáng tỏ việc này và hết sức giúp anh. Bảo anh viết địa chỉ chùa nào ở Huế anh sẽ trở về, dặn cứ hy vọng chờ xem, đừng đi đâu. Ngay sau đó, triệu tập hội đồng giáo sư, huấn luyện viên và cán bộ điều tra hồ sơ thành tích sinh viên này. Mọi người phải ngẩn ra. Các giáo sư văn hóa, huấn luyện viên quân sự đều xác nhận anh này thuộc thành phần xuất sắc, điểm trung bình thuộc một phần 3 trên cao. Chỉ có các cán bộ trong hệ thống chỉ huy và kỹ luật mới phê những điểm thấp tận cùng. Hỏi lý do thì trả lời anh này ngang ngược, khó bảo, vi phạm kỷ luật gần như thường xuyên. Hỏi ý kiến hội đồng, trừ cán bộ kỷ luật, mọi người xác nhận anh này đáng được ở lại. Nhưng Bộ QP đã theo dề nghị trường, ký giấy giải ngũ và hồi hương, nên vì uy tín nhà trường, xếp việc nay đi. Mình không trả lời hội đồng, vì đã có quyết định trong đầu. Tối hôm ấy, thảo văn thư gửi Tổng Tham Mưu Trưởng, với bản sao trình Tổng Thống vì kiêm Bộ Trưởng QP. Sau khi trình bày sự việc chi tiết, nhận định, mình có lỗi nặng, quá tin thuộc cấp, thiếu kiểm soát, tạo nên bất công hại đời một sĩ quan tương lai, mà lại còn làm giảm uy danh QÐ, bởi lẽ, thượng cấp đã vì mình làm một việc bất công. Vì thế, xin thượng cấp giải nhiệm, trao quyền chỉ huy, và chức vụ Văn Hóa Vụ Trưởng cho 2 người khác, giáng cấp, rồi thuyên chuyển đi phục vụ tại đơn vị tác chiến 3 năm, trước khi giải ngũ khỏi QÐ. Việc phải đi đơn vị tác chiến 3 năm là hình phạt, trước khi giải ngũ vì từ trước từng xin giải ngũ nhiều lần. Riêng đối với sinh viên X, xin thâu lại quyết định sa thải, ban lệnh ngay cho Quân Ðoàn 2 liên lạc gấp với chùa Y tại Huế, cấp phương tiện di chuyển cho X trở lại trường kịp theo học chương trình giai đoạn 2 sắp khai giảng. Bốn đêm sau, Ðại Tướng Tổng TMT gọi điện thoại tại nhà, báo tin là đã ra lệnh cho QK2 thi hành những điểm đề nghị về X. Rồi trong tiếng cười nhạo báng, ông thêm : “Mày xin giáng chức, xin phạt, mà tao lại được khen. Ðể khi nào mày về đây, tao kể cho mày nghe!”. Trong tuần ấy, X trở lại trường, ban cán bộ được hoàn toàn thay thế. Khoảng 3 tuần sau, Tổng Thống lên Ðalat nghỉ. Ðiện thoại tham mưu biệt bộ gọi cụ muốn gặp lúc 9 giờ sáng. Ðến nơi, thấy một toán 7, 8 vị tướng, bộ trưởng, thị trưởng, tổng giám đốc, đang xúm chung quanh TT trình công chuyện. Thấy mình đàng xa, sửa áo mũ bước tới, Cụ thấy, liền xua tay bảo mấy vị kia đi về, vẫy mình đến. Ông thong thả bước tới một chiếc ghế đá, ngồi xuống, ra hiệu bảo ngồi một góc kế cận. Không dám ngồi, đứng nghiêm, nghe chăm chú xem ông nói gì. “Cứ ngồi xuống đi! Chuyện ni dài lắm. Ngồi, không sao!”. Câu chuyện “đàm thoại một người nói ấy” dài hơn 2 giờ . Nhiều vấn đề vượt khuôn khổ bài này, chỉ nhắc lại hai điểm chính: 1. ông nói nhiều về chiến lược quân sự quốc tế, chính sách chính trị áp dụng theo vị trí địa đư (géopolitique), và hứa còn dịp dạy thêm nữa sau này. 2. Phải đích thân khởi sự ngay chương trình đào luyện sinh viên sắp ra trường tinh thần lãnh đạo, “có can đảm nhận lỗi như anh”. Ông Tướng nào cũng tạo được thanh niên thành trung đội truởng. Nhưng tui thấy chỉ một mình anh mới tạo cho tui được sĩ quan giống anh”. Lúc đó mới hiểu lý do tại sao mình nhận tội, mà Ðai Tướng lại được khen. Chỉ còn 10 tháng nữa khóa đầu tiên trong chuơng trình mới sẽ tốt nghiệp. Việc mình phải làm quá khó. Ðọc kinh cầu nguyện Ðức Chúa Thánh Thần soi sáng trí óc tìm phuơng pháp, vì nhìn vào số đông sinh viên, phần lớn chọn võ nghiệp không phải thuần túy do lý tưởng quốc gia hay căm thù CS. Cũng có, nhưng rất ít. Ða số là do những nhu cầu và thúc bách riêng tư dễ hiểu, tự nhiên, nhưng không cao quý lắm. Rút kinh nghiệm bản thân ở Thủ Ðức, nếu dựa vào “quân kỷ làm sức mạnh" với cao vọng biến những anh này thành chỉ huy anh hùng, sẵn sàng hy sinh cho đất nước, là một ảo tưởng không bao giờ thực hiện được. Suy tư mãi mới tìm được chân lý trong căn bản nội tâm mỗi người: Lý trí và suy luận. Phải áp dụng phương pháp của Socrate, khi mang triết học dạy cho kẻ làm nô lệ. Không thuyết giảng dài giòng, chỉ nêu câu hỏi, gợi ra câu trả lời do sự suy luận đơn giản. Kẻ nô lệ dốt nát tự mình tìm hiểu được những vấn đề trừu tượng thường khó hiểu như Thượng Ðế, đạo đức, tâm trạng thư thái tinh thần. Vì vậy, sinh viên vào lớp không phải nghe thuyết giảng. Mổi người được phát một tờ giấy quay ronéo tóm tắt vài trường hợp thường xảy ra trong đời sống đơn vị, liên hệ lần lượt với đủ hạng người, thượng cấp đai úy “mã tấu răng đen”, đồng cấp “trung úy lau cá”, “thiếu úy nịnh bợ”, thuộc cấp “thượng sĩ bướng vì có 17 năm quân vụ”, “trung sĩ lỳ”, vừa chậm, lại vừa khó bảo. Lớp học chia thành toán 8, 10 người. Sinh Viên thảo luận tìm biện pháp giải quyết “một cách hữu lý” những vấn đề do nhân vật trong giấy gây ra, mà sinh viên, là dơn vị trưởng, phải giải quyết. Xong, cả lớp họp lại dưới sự trọng tài cuả giáo sư, thảo luận trong tinh thần tôn trọng lẽ phải và lý trí, không nhượng bộ giáo sư vì cấp bậc. Phương pháp ấy tỏ ra hấp dẫn, gợi sự tò mò vì tính chất mới lạ của nó, ngay trong buổi học thứ nhất. Các cuộc thảo luận rất hăng say, nhất là sau khi giáo sư bật đèn xanh “cho phép” quên cấp bực trong khi thảo luận, chỉ cần tôn trọng uy quyền của lý trí và lẽ phải, không được ngoan cố. Thường thường, giữa sinh viên và chỉ huy trưởng quân trường, có khoảng cách rất xa. Trong giờ lãnh đạo chĩ huy, giáo sư nói rõ cho sinh viên hiểu, mọi người trở thành ngang hàng, chỉ hơn nhau trong sự sâu sắc và chín chắn của suy luận. Ðây là một trò chơi khá nguy hiễm cho giáo sư kiêm chỉ huy trưởng. Một mình đơn thương độc mã, đương đầu với 40 tên “cô hồn”, quen ăn tục nói phét, nay lại được dịp nói thả giàn, miễn là nói đúng lý. Chính nhờ câu “miễn đúng lý” ấy mà phương pháp mang ra thí nghiệm thành công. Vì đã thỏa thuận với nhau là kẻ nào nói hũu lý, lập luận mình sẽ được đồng ý, kẻ nào nói sai chắc chắn sẽ bị tấn công và lập luận mình bị đạp đổ, nên không có “thầy chú” nào dám công khai lý luận “tầm phào”, hoặc “ngụy luận trắng trợn”, để tránh những tiếng phản đối ồn ào của lớp học. Từ thái độ hững hờ, sợ nhưng có thể ghét, vì mối tương khắc tự nhiên giữa thuộc và thượng cấp, khoá sinh viên dần dần nhận thấy giáo sư thành thật và suy luận cứng rắn, “khó đùa dai”, chấp nhận mình là thầy, “NHIỀU HƠN là chỉ huy trưởng”, mến và tin như người anh cả. Ðó là lúc mình mới truyền bá cái nhân sinh quan của đời mình cho họ, vì mình cũng vậy, dần dần mến họ như em. Cũng là lúc đặt họ trước tình thế đất nước, mang thí dụ người hiền hòa đang làm vườn, bị láng giềng kéo dư đảng phá rào, sang nhà mình đốt phá, đe dọa cả nơi thờ phụng tổ tiên, thì thử hỏi chui xuống hầm, chạy trốn, quỳ lạy tha chết để cho nó làm gì thì làm, khoanh tay đứng nhìn, hay là gọi vợ con, anh em chạy ra đánh đuổi kẻ kia về. Suy luận rồi thảo luận, sinh viên tự tìm lấy câu trả lời duy nhất là quyết chống lại tên hàng xóm tham lam. Họ dã tìm thấy lý do tại sao phải chống Cộng. Họ đã tìm thấy lý tưởng quốc gia, mà ngày vào trường họ chưa có. Những điều ấy tìm thấy được là nhờ lý trí, và suy tư. Từ nay họ sẽ sống anh hùng không phải vì cấp bậc, vì khen thưởng, hay vì sợ khiển trách. Như vậy, phương pháp truyền bá triết lý nhân sinh chỉ là việc giúp sinh viên tự khám phá ra nội dung cuả triết lý ấy sẵn có tiềm tàng trong nội tâm mỗi người. Mỗi người chỉ cần khám phá ra để sử dụng cho đời mình. Ðó là lý do, tuy không cho họ biết, thầy đã nhận họ cùng một “giống với nhau, Giống Cùi”, nên mới gọi họ như mình là “Cùi”... Chỉ mấy tuần sau ngày khóa này tốt nghiệp xuất trường, danh tiếng ngôi trường mẹ vang dội chiến trường. Tổng Thống rất vừa ý, muốn chương trình này tiếp tục luôn cho mọi khóa về sau. Còn ba khóa Cùi nữa tốt nghiệp những năm sau. Chương trình này chấm dứt sau ngày người truyền bá triết lý ấy không còn có mặt tại quân trường nữa.