Cuộc thương thuyết thành công: 
Tây chuyển giao mọi quyền hành.
Chính tay chung thảo bản ký kết sơ khởi 
của thỏa ước chính thức Pháp Việt 
và thuyết phục được Tây trao lại Dinh Toàn Quyền cũ

Pháp đang bắt đầu gặp khó khăn với kháng chiến Algérie, cần lực lượng tăng cường mặt trận ấy. Thủ Tướng Diệm áp lực mạnh để Pháp mở lại cuộc hội nghị tạm hoãn. Mỹ cũng đứng về phía ta. Tây còn nhờ Mỹ nhiều về tài chính để nuôi dưỡng chiến tranh Algérie. Vì những thúc bách và áp lực do tình thế quốc tế gây nên, Pháp đành phải chịu điều đình, may ra còn vớt lại đôi chút ảnh hưởng trên quốc gia, nhất là nay không còn "bù nhìn" của minh để giật giây nữa. Lần này, các cuộc thảo luận, trở nên đúng đắn, nhưng rát tinh tế và gay go, diễn ra tại phòng hội TTM/VN tại Chợ Lớn. Thành phần ta bớt 2 vị Đại sứ, thay thế bởi Tướng Lê Văn Kim và một Tổng Trưởng. Sau 2 tuần, hai phái đoàn thỏa thuận những điểm chính, và giao trách nhiệm cho 2 Tổng thư ký thảo luận về những điểm chi tiết và cùng nhau soạn bản thảo thỏa ước sẽ được 2 Chính Phủ ký. Hai bên gặp nhau trong căn phòng nhỏ, có 2 đường giây điện thoại riêng, liên lạc hỏi chỉ thị mới khi gặp chỗ bế tắc. Không biết Tây tổ chức thế nào. Bên ta, thì Thủ Tướng tuy tin mình đã thấu triệt vấn đề, vì là tác giả bản văn căn bản, cũng muốn có sự trợ giúp hùng hậu sẵn sàng, gồm có 2 Tướng Đôn, Kim, và ông Tổng Trưởng ngồi túc trực trong văn phòng Tướng Đôn, gần điện thoại để bàn và, nếu cần, chuyển chỉ thị mới của Cụ cho mình. Chỉ trong 5 phút đầu, Đại Tá Pháp hiểu ngay tên "Mít" đôi diện không phải là thứ mang chữ ra mà chơi trò ăn gian được, dùng chữ có nhiều nghĩa để cãi láo sau này. Mỗi lần, ngài tung ra một chưởng, mình cười duyên, tốp lại, chỉnh ngay chữ khác thích hợp và đúng với sự kiện hai bên đã thỏa thuận trên nguyên tắc. Có vài vấn đề khá hóc búa, tỷ như yêu sách Tây đòi quyền chiếm một vài cơ sở trong các phi trường, hải cảng vì còn nhận tiếp tế quân nhu, đạn dược từ ngoài tới, tự do đi lại trên quốc lộ đưa đến Lào và Cam Bốt, vì còn quân trên 2 nước ấy. Nhưng ngụy luận mãi vô hiệu lực, Tây phải nhận là một nước độc lập không thể để ai, mặc dầu là đồng minh tự do sử dụng cơ sở riêng của mình và muốn làm gì thì làm trên lãnh thổ mình. Phải có sự cho phép trước của nước chủ, nhiều hay ít, ngắn hạn hay dài hạn. Việc chuyển giao cơ sở quân sự Tây đang giữ không gặp nhiều sự tranh luận. Chỉ chuyện trả lại Dinh Toàn Quyền là gây cấn nhất. Lập trường Tây là Dinh này do tiền của dân Tây bên Tây góp thời các Đô Đốc xây nên, như vậy phải giữ cho tòa Đại Sứ Pháp dùng như biểu thị cho sự hiện diện của Pháp trên một quốc gia thấm nhuần văn hóa Pháp. "Tôi nhận lệnh "không thể làm khác được" là phải giữ Dinh này lại cho tòa Đại Sứ. Tôi không thể nói gì hơn". Thật là gặp phải ngõ bí rồi. Chúa bỗng soi sáng lóe trong óc một đề nghị thỏa mãn được tự ái Tây, để chịu nhượng lại Dinh Toàn Quyền cũ. Với nụ cười mà mình cho là "dễ thương nhất", thong thả nói cho tư tưởng thấm sâu vào tâm tư người nghe: "Tôi không dám nghi ngờ lời ông nói về nguồn gốc tài chính của dinh thự này. Tôi chỉ muốn bàn về sự hiện diện của nước Pháp trên nước tôi sau này. Sao lại cần một cơ sở, một kiến trúc có thể bị thời tiết, gió mưa làm suy đồi, sụp đổ, để duy trì sự hiện diện? Ông nhận xét rất đúng! Nước tôi thấm nhuần sâu rộng nền văn hóa Pháp. Tại sao không tiếp tục duy trì một sự hiện diện đáng mến, đáng yêu và đáng kính, thu hút nhân loại như tiếng kèn của Tự Do và Bình Đẳng ngày 14 tháng 7 năm 1789 , hay trong tư tưởng của Montaigne, Descartes, thi văn của Musset, Hugo, triết lý của Voltaire, Jean Paul Sartre, hay là như hiện giờ, các trường "Marie Curie", nhà thương Grall? Đó là sự hiện diện của một nước Pháp nhân ái, vị tha, tế nhị và cao quý. Còn cái Dinh kia, trước con mắt người Việt, nếu còn giữ lá cờ tam tài phất phới trên nóc, vẫn là hình ảnh của báng súng, roi da quất và lưng, vào cổ người dân Việt, càng nhắc nhớ mãi một quá khứ mà ông và tôi, chúng mình dang muốn quên đi. Hơn nữa, người Pháp các ông nghĩ thế nào, khi có lá cờ ngoại quốc bay trên điện Elysée? Vậy ông hiểu ý nghĩ chúng tôi khi thấy cờ nước đô hộ mình vẫn ngang nhiên bay trên một công ốc, xưa nay, vẫn tượng trưng cho trung tâm điều khiển quốc sự? Vậy tôi đề nghị chính phủ tôi mua lại Dinh này với một đồng danh dự. Hai bên tạm ngưng, hỏi ý kiến thượng cấp trước khi ngồi lại. Nửa giờ sau, ông trở lại bàn hội và cùng nhau viết bản thỏa ước: Tây chịu "nhường" lại Dinh với giá một đồng danh dự. Cuộc "đấu kiếm mồm" này bắt đầu từ 9 giờ sáng tới 3 giờ chiều mới kết thúc. Cùng với cái bắt tay từ giã xã giao, "gần như thân mật", cựu đối thủ hỏi: Qua Pháp, anh học trường nào?". Mình cười, lắc đầu: "Nhà tôi nghèo, chỉ học ở Huế và Hà Nội." Ngày 15 4-56, lúc Tây trao lại hết quyền hành chính và quân sự cho ta, kể cả Dinh Toàn Quyền, sau này trở thành Dinh Độc Lập, Bộ TTM, Tân Sơn Nhất và tất cả cơ sở công cộng quân, dân sự trên toàn quốc cho ta, là ngày mình trả trọn vẹn cái nhục phải ngửi phân người, xúc đất, cháy nắng, nhịn đói, rát cổ vì khát, 8 năm về trước, chỉ vì tội dám sống như thằng người tự do, không chịu làm tay sai để hưởng danh vọng và phú quý. Mùa Xuân năm sau, 1957, Tướng Đôn thăng Trung Tướng, chỉ huy Quân Đoàn 2, mình thăng Trung Tá, kiêm thêm chức Tham Mưu Phó Tiếp Vận, chức vụ thứ 3 sau Tổng Tham Mưu Trưởng. Mang cấp bực trên cổ, nay mới cảm thấy hãnh diện. Quốc Gia nay mới thực sự độc lập. Mình nay mới có một Quốc Trưởng đáng kính trọng, say sưa nhận lệnh để thi hành, biết chắc là việc mình làm lợi nước, giúp QĐ hùng mạnh. Ngoài ra, đã có người biết và dùng tài mình, và việc thăng cấp nhanh chóng, mặc dầu mình không hề nịnh bợ, thuộc phe đảng nào, cũng là điều hiếm có, tuy vẫn nghèo xác mồng tơi. Vì nhiệm vụ phức tạp: đôn đốc hoạt động của 8 Nha Sở lớn, kiêm một Phòng quan trọng, luôn luôn được Tổng Thống gọi vào giao việc quốc sự gấp, có khi phải làm suốt đêm, tỷ như việc thảo sắc luật tổ chức hệ thống quốc phòng trên văn kiện Pháp Việt phải xong trước 5 giờ sáng, hồ sơ phải xét mỗi ngày cao hơn 1 thước rưỡi. Thế mà ngày thứ 7 và tối chủ nhật còn phải đi dạy tư, kiếm thêm tiền, 2 con đã bắt đầu đi học, vì vẫn lĩnh lương cũ, như ngày còn ở Thủ Đức(8,500). Vì vậy, chức quân sự cao, có chút quyền, nhưng vẫn đói, vẫn mong có dịp xin giải ngũ, không bao giờ có ý định chọn võ nghiệp làm cuộc sống cho mình.