Cơ hội tìm thấy lý tưởng
và dịp trả thù ngày Tây hành xác 8 năm trước

Chiến tranh tạm ngưng với sự phân chia ranh giới 2 Miền. Ông Ngô Đình Diệm , một chí sĩ nổi tiếng liêm khiết, có thành tích chống Pháp được Mỹ dùng áp lực ép Bảo Đại chỉ định làm thủ tướng. Dân chúng bỗng có một tinh thần mới, lý tưởng quốc gia rạng tỏ, khác hẳn với lý thuyết Cộng Sản. Mỹ bắt đầu tăng viện trợ cho VN, nhất là trên lĩnh vực quân sự, cải tổ, tối tân hóa, và huấn luyện một quân lực hùng mạnh, đương đầu được với mọi cuộc xâm chiếm do CS chủ trương. Nhưng tình trạng chưa được sáng sủa lắm. Lực lượng hùng hậu Pháp dồn vào Nam, chiếm đóng các vị trí chiến lược, và khắp các tỉnh và vài thôn xóm Pháp còn đồn trú quân. Dinh thự, công ốc vẫn còn trong quyền sử dụng trọn vẹn của Pháp. Chính phủ ta chỉ có vài công ốc của Phủ Thống Đốc Nam Việt trước mà thôi. Pháp lại còn "đỡ đầu", cung cấp vũ khí cho nhiều nhóm có thù riêng với Cộng sản, nhưng "công việc làm ăn" lại giống như lề lối các "găng mafia" ngày nay. Những nhóm này công khai sinh hoạt ngay ở Thủ Đô. Tệ hơn nữa, Quốc Trưởng, do Tây giật giây, còn bỏ nhiệm lãnh tụ của một "găng" ấy làm Giám Đốc Cảnh Sát! Tổng Tham Mưu Trưởng của Thủ Tướng lại là một Tướng dân Tây, mang cấp bực Đại Tá quân đội Pháp! Tại địa phương, vài giáo phái được Tây võ trang đánh Cộng, nay đang gây nạn sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh, chiếm đất, làm mưa gió, khổ cực dân lành. Nhờ ở uy tín và lòng tin cậy ông thu hút quần chúng ngay từ ngày về nước, Thủ Tướng dần dần cảm hóa được nhiều sĩ quan dân Tây, như Đại Tá Đôn, Tham Mưu Trưởng thức tỉnh, trở lại yêu nước "ruột" hơn "nước ngoài", trong lúc tinh thần quân sĩ như được đổ vào một bầu nhiên liệu lý tưởng "nay mới có". Thủ Tướng có Tổng Tham Mưu mới, nạn "găng" và sứ quân địa phương được tiêu hủy. Nhưng vẫn còn việc quan trọng nữa phải làm, vì ta vẫn chưa hoàn toàn độc lập. Mình mang cấp đại úy từ đầu năm 1955, 18 tháng sau ngày mang cấp thiếu úy. Nộp đơn xin giải ngũ, vì đến hè, là hết thời hạn động viên. Bộ Quốc Phòng ngạc nhiên thăng cấp quá nhanh như thế sao không vào hiện dịch, lại xin giải ngũ, không biết là đã được trường Nguyễn Bá Tòng mời ký hợp đồng dạy Triết 30,000 một tháng (trong khi chỉ lĩnh 8,500, kể cả lương sai biệt). Mặc dầu vậy, vẫn ký nghị định cho phép giải ngũ từ tháng 5. Bỗng nhiên, lúc khoảng 3 giờ chiều, đang ngồi viết, có cô bạn gái đến thăm, mang theo hộp chả cua, đang ngồi đút ăn, thì cửa phòng mở toang, Đai Tá Tham Mưu Trưởng bước vào, theo sau có Trưởng phòng, mặt tái xanh. Mình đưng dậy chào, cô bạn ngượng ngùng chắc muốn có phép biến ngay khỏi cảnh bối rối này, thì Đại Tá, "rất chịu chơi" xua tay mỉm cười nói: "Hai người cứ tự nhiên, không sao!". 45 phút nữa mời anh lên văn phòng tôi có chuyện cần nhờ anh". Nói xong ngoắt tay cho trưởng phòng đi theo, miệng chúm chím cười bước ra. Đó là lần đầu tiên, được biết Đại Tá Đôn, để 3 tuần sau, trở thành một cộng sự viên mà ông, tin, mến, trọng và thân như anh em đến mãn đời, và ông cũng là trong số rất ít sĩ quan, không quá 3 người, mà mình kính, mến, thân và trọng, và kỷ niệm đẹp còn muốn nhớ mãi không quên. Việc ông cần là một bản tranh luận trên hai phương diện liên lạc ngoại giao bình thường và quân sự, với mục đích buộc Pháp chuyển lại "tất cả" quyền hành lại cho ta. Việc khó khăn là ta đang bị Tây nắm chặt trong tay, như con thú nhốt trong cũi. Ta cũng không phải là kẻ chiến thắng có thể đòi hỏi như CS sau Điện Biên Phủ. Thủ Tướng đã sai Bộ Quốc Phòng, với rất nhiều tiến sĩ luật trong Bộ và các Bộ khác như Ngoại Giao, Tư Pháp, họp bàn trình đề nghị lên. Cụ chê dở, bảo TTM làm. Hai dự án trình lên rồi, Cụ cũng chê luôn. Mỗi lần gặp, Cụ lại hỏi Đại Tá vừa xấu hổ vưa bực. Sực nhớ tới ở phòng Nhì,có đại úy viết tiếng Tây hơn Tây, thay được cả cố vấn. Túng thế, "thiếu chó, bắt mèo" mới đến mình! Lại như được gãi vào chỗ ngứa, nhưng chỗ này, nếu gãi đúng cách, sẽ khoái muôn vạn lần, mình nhận ngay công tác, chỉ xin thời hạn 3 tuần sẽ trình đề nghị. Được "carte blanche" hoàn toàn tự do một tháng, sử dụng một phòng cô lập trong cơ sở phòng Nhì, có một nữ đã tự viên từng học trường Pháp phụ lực, mình hăng say đi thư viện tra cứu tiền lệ quốc tế, liên lạc các tòa đại sứ xin bản sao thỏa ước, vò đầu suy tư, viết lên bảng, xóa đi, tính lại, tìm mọi lý lẽ để đánh đổ lập luận mình vừa nghĩ, cho đến khi hết lý mới tin là được, thức gần đến sáng viết đi, viết lại, xét từng ý ẩn trong mỗi câu, thận trọng khi dùng một chữ mới. 15 ngày sau, một bản đề nghị 50 trang đánh máy, trình lên Đai Tá. Về nhà ngủ cho lại sức. Hai giờ sau, chính xe của Đại Tá đến nhà gọi phải mặc đồ lớn đi ngay. Tháp tùng ông trình diện Thủ Tướng. Bản đề nghị được chấp thuận, dùng làm căn bản cho cuộc thương thuyết sẽ mở tại Paris hai tháng sau, với phái đoàn Việt 6 người, do bào đệ Thủ Tướng cố vấn, Bộ Trưởng Quốc Phòng lãnh đạo, nhân viên gồm có Thiếu tướng Đôn (vừa thăng chức), 2 Thạc Sĩ đại sứ ở Pháp và Ý, trước đây lại là giáo sư cũ của mình tại trung học Huế, và mình ,tác giả bản đề nghị. Trong tuần ấy, nghị định giãi ngũ bị thâu hồi, thời hạn phục vụ vô hạn định vì nhu cầu Quốc Gia và thăng cấp Thiếu Tá.