Đầu Xuân, kể chuyện Ân Tình


Nguyễn Cửu Nhồng

          Mừng Xuân Mậu Tý, các bạn Khóa 16 vùng Texas đã tụ lại nhà bạn Lương Huỳnh Hương, ăn chung cái Tết tha hương, trong không khí ấm cúng của những kẻ “Cùng một lứa bên trời lận đận”.
          Thời trai trẻ, họ từng sát vai nhau để vượt qua binh lửa, nay đang bước sang ngưỡng cửa “thất thập”. Nhưng tình chiến hữu, tình quê hương vẫn gắn kết họ lại với nhau như thuở xa xưa. Những ánh mắt thân tình, những “mầy tao” thắm thiết, đã làm nhạt đi trên khuôn mặt, những nét nhăn cằn cỗi vì năm tháng.

Sau 30 tháng tư 75, kẻ đi thoát hay người ở lại, chúng ta đều có tâm trạng chua sót vì những mất mát chia lìa.
Không bơ vơ trên xứ người, thì bị hành hạ, đói khổ trong lao tù CS. Không cha xa con, cũng vợ lìa chồng, hay thất tung bè bạn.
Mẩu chuyện về một cô em gái trở lại Việt Nam, lặn lội đi tìm xác người anh  trai thân yêu, mất tích tại Đà Nẳng. Hay nỗi đắng cay của cô con gái đi Bốc Mộ cho cha mình đã chết trong “cải tạo”, bị vùi dập một nơi gọi là Suối Máu, đã làm chúng ta ray rứt xúc động.
Ngày đầu năm, bên ly rượu mừng Xuân, bạn bè điểm lại những “cảnh đời sót xa”, gọi là Vui Xuân nhưng không quên bạn bè. Bạn Toàn đã đưa ra một hồ sơ dầy cộm, gồm đầy đủ giấy hôn thú, khai sinh … của vợ và hai con một người bạn chúng ta. Người bạn đó đã hi sinh một chân trong chiến đấu. Sau những năm tháng bị kẻ thù đày đọa, và phải sống què cụt đói khổ trên quê hương. Tuy nay đã về lòng đất mẹ tại Gò Công, nhưng chúng ta, những chiến hữu ngày nào, có thể nào quên gia đình người bạn đó không. Người bạn đó là Nguyễn Thành Banh.
Nhân đây, tôi xin tạm ngưng những chuyện “muốn quên mà vẫn bị nhớ”, để cà kê hầu các bạn già về chuyện “xin hãy nhớ đừng quên”.
Đó là chuyện “Những Ân Tình”.
Tuy cảnh đời không ai giống ai, đôi khi còn như bầu với bí. Nhưng chúng ta vẫn chung một giàn. Chúng ta còn chung cả một lý tưởng, một Mái Trường Mẹ thân yêu.
Câu chuyện bạn Tài ung thư gan, tưởng đã tiêu tùng, nhưng nay Tài đã vượt thoát tử thần và đang vui sống trong tình thương mến.
        Hồi đó, Tài làm trong hãng sản xuất chả giò, khi thấy da mặt hơi nám, cứ nghĩ do lửa khói. Cho đến khi thấy mỏi mệt, tay chân rũ liệt, mới đi xét nghiệm. Sau không biết bao nhiêu cái test, bác sĩ xác định là Tài bị cancer gan. Nếu không chữa trị, chỉ sống một năm nữa.
Tên Tài Lai được vào list chờ thay gan. Để cầm cự, bác sĩ luồn ống từ háng lên đến khối u, đốt cho nó chai lại. Tuy thế giỏi lắm, cũng chỉ có thể kéo dài thêm 2 năm.
Họ phát cho pager, dặn hể nghe ‘tít tít’ là coi số trả lời ngay. Đồng thời, bắt mang cái thẻ bài như lính thời chiến.

Tài thật may mắn, vì mới ba tháng, đã nghe tiếng pager reo. Bệnh viện cho biết trong vòng 40 phút, trực thăng mang gan tới, Tài phải có mặt gấp.
Đây là một kinh nghiệm để chia xẻ với các bạn già. Trường hợp nầy, nên gọi ngay ambulance emergency. Tài để con chở đi, nếu kẹt xe, chắc đã không tới kịp. Vì vừa đến, y tá chờ sẵn xách Tài đi “clean up”, đẩy ngay vào phòng mổ. Trực thăng chở gan cũng vừa đáp xuống Bệnh viện Saint Luke, nơi thực hiện ca mổ.
Cô con hồi hộp ngồi chờ đến 4 tiếng rưỡi đồng hồ, mới thấy bác sĩ đi ra, áo blouse đầy máu, báo cho biết mọi sự hoàn tất, lá gan đã bắt đầu làm việc. Nhưng chưa được tiếp xúc.
Nửa đêm, tỉnh lại. Không rõ trên Thiên Đường hay dưới Địa Ngục.
Tâm trí chập chờn, bỗng nghe tiếng hỏi : -“Bác khỏe chưa” ?
Tài nghĩ đang mơ, vì câu hỏi rõ ràng là tiếng Việt.  Cựa mình thấy đau, mới chú ý nhìn, một Bác sĩ trẻ đang cúi xuống, tự giới thiệu :
“Cháu là con rễ Ba Hiển, Ba con bảo vào hỏi thăm tình trạng của bác ra sao. Các bác ở ngoài rất lo. Cháu đã tìm đọc hồ sơ bịnh trạng của bác, mọi chuyện tốt đẹp, lá gan mới thay “work” tốt nên bác mới tỉnh nhanh như vậy”.
Tài mừng như bắt được vàng, bèn nhờ nhắn lại gia đình và bạn bè rõ bệnh trạng. Sau nầy, Tài biết đó là B/s Vũ Bá Triễn, rể út của Trần văn Hiển, hành nghề B/s Cấp Cứu tại Bệnh Viện Saint Luke, và Giáo sư phụ giảng tại Trung Tâm Y Khoa Galveston-Houston. Kết hôn với cô Út Andra Trần năm 2000 mà hầu hết Kh.16 vùng Cà đã đến tham dự tiệc cưới.

Thời gian nầy, vợ chồng Hà Võ làm việc tại đây, đã nhanh chóng đến. Chị Hà, làm “Research” trong bệnh viện, sáng nào cũng tạt qua thăm hỏi. Rồi Diên Hồ, Hương Lương, Cự Lê, Đạt Ngô, Văn Cung, có cả em Hương Lê, K’Ớt, làm ở  những khu vực kế cận, hễ có giờ break là chạy đến, (trong khu nầy, có đông Khóa 16 và một số đàn em VB làm việc, là nhờ công sức Hà Võ, nó có dịp đi khắp nơi, gặp đâu thiếu người là lăn xả vào, nộp đơn, tìm gặp Giám Đốc để giữ chỗ), Tài là bệnh nhân đắt khách thăm nom nhất.
Không phải chỉ có mấy ông thần “nước mặn” làm trong đó lo cho Tài, mà mấy bà cũng sợ Tài không quen thức ăn bệnh viện, nên chia phiên nhau nấu đồ bới, sai đức lang quân xách vào. Kỹ sư điện Hà Võ, lấy cớ đi kiểm soát về đèn đóm, hơi ẩm, nhiệt độ phòng ốc. Giữ nhiệm vụ hâm thức ăn.
Sau nầy Tài tâm sự: “Không biết mấy ông vua Ả Rập kẻ hầu người hạ sướng thế nào, chứ tao, mỗi lần cảm thấy buồn trong bụng, là được mấy cô y tá thơm như múi mít. Đến nâng nhấc, dìu vào cầu, cho mình hưởng đệ tứ khoái. Thêm tụi mầy, lo dâng cơm, hầu nước”.
Lá gan Tài vừa được ghép, của một người Mễ 32 tuổi, vừa bị tai nạn chẹt xe. Do lá gan còn trẻ, BS điều trị phải chích thêm loại thuốc mà các Vận Động Viên Thế Vận Hội lén dùng trong các kỳ thi đấu, vào cơ thể để nó đủ sức đương cự với sức làm việc của lá gan vừa thay.
Những ngày Tài nằm Viện thật vui, cái giọng “Sư Tử Hống” của Hà Võ, từ sáng sớm đã oang oang trong khu thăm viếng. Nó làm quen từ mấy cô y tá đến bác sĩ, tường thuật cho mọi người biết diễn biến bịnh trạng. Tài tuy “cu ki” nhưng đã không cô đơn trong suốt thời gian nằm Viện.
Tôi chắc các bạn đang thắc mắc vì không thấy nhắc đến chị Tài. Mà thôi, chuyện thuộc dĩ vãng. Chỉ biết, Tài đi tù về, thành gà trống nuôi năm con.
Thời gian ở tù về, mỗi lần Tài đi xin việc để nuôi con, “chính quyền” bắt buộc : -Phải có “Hộ Khẩu”.
Về địa phương xin nhập hộ, họ lại đòi điều kiện: -Phải có “công ăn việc làm”.
Mỗi lần gặp cán bộ “Cách Mạng”, phải kèm theo vài điếu “thuốc có cán” để tăng trọng lượng cho lời xin. Nhưng câu trả lời vẫn “trước sau như một” là : -“Cách Mạng sẽ cứu xét, anh cứ yên tâm về chờ”.
Đó là “chính sách”, là luật lệ nhà nước ta.
Xin cấp con gà, họ bảo chờ có trứng cho ấp. Đến chỗ cấp trứng, họ bảo chờ có gà để cho đẻ! Thực ra, họ chờ thủ tục “đầu tiên”.
Đó là “le loi” XHCN. Ôi, “Nơ noa nà nuật nệ”. Thân phận kẻ đã mất mọi thứ quyền, kể cả quyền được lao động để nuôi con. Có lẽ họ cho “lao động” là “vinh quang”, nên thân phận ngụy quân mà đòi vinh quang thì đâu có được.
Đến đây, lại thêm một chuyện cổ tích.
Trong lúc thống khổ, Bụt hiện ra dưới dạng lá thư báo tin có quà nước ngoài. Nhưng Tài lại nghi ngại, không rõ Bụt thật hay Vẹm trá hình, đôi khi Vẹm lại mang khuôn mặt từ bi hơn cả Bụt thật. Lòng băn khoăn, từ 3 giờ khuya, Tài đã xếp hàng chờ trước Bưu Điện.
Đến giờ mở cửa, cứ bám theo người trước, nhích từng bước để đến cửa sổ phòng phát Bưu Kiện. Sống lưng bổng lạnh khi nghe cô thư ký bảo vào phòng An Ninh gần đó làm việc, an ninh đồng nghĩa với bất trắc.
Một tên công an hạch hỏi: Tổ chức phản động nào đã chuyễn các gói quà nầy về. Tại sao gói nào cũng cùng một người gởi, quà giống hệt nhau, thư “Chúc Tết” bên trong cũng một mẫu. Các anh thuộc Tổ Chức Phản Động nào?
Sau khi giải thích, và lấy bớt chút ít quà để riêng ra làm “thủ tục đầu tiên”, anh công an mới thông cảm, cho ký nhận.
Tên người trên các gói quà là Hồ Khắc Đàm, lá thư chúc Tết là của tên: Khóa 16.
Gói quà không nặng về cân lượng, nhưng nặng thâm tình, và cả khả năng cứu trợ. Vì trong cảnh khốn cùng lúc đó, tiền bán gói quà nhỏ, là cả một tài sản mơ ước.
Thời gian nầy, thỉnh thoảng tôi nghe các bạn K.16 Hãi Ngoại bắt đầu gởi quà về cứu trợ. Một lần Diên Hồ tiết lộ đã chuyễn cho Công tử Cù Không Cười ở Tùng Nghĩa ít tiền anh em gởi về. Hay chuyện Diệu Võ mà tôi đã kể.  Đó là những tình sâu nghĩa đậm mà có lẽ không bao giờ chúng ta có thể quên.
Có lần gặp bạn Nguyễn Đăng Dinh, bán cà rem cây ở Cam Ranh, tôi xúi nó đến gặp Bùi Văn Ngô hỏi tí tiền cứu trợ, chạy thủ tục HO. Tôi chắc nó được chút gì đó nên mới có khả năng lập thủ tục ra đi.
Riêng Tài, thời gian vô công rồi nghề nầy, làm sợi giây liên lạc, tìm các bạn gặp cảnh không may để kêu cứu giúp. Một lần, Tài được HH. Đức ở Võ Di Nguy cho biết hoàn cảnh bi đát của Diệu. Tài đã viết thư kể Diệu phải làm tiều phu kiếm sống. Lần đầu Diệu nhận gói nhỏ do Đàm gởi, nhờ bán gói nầy, Diệu có khả năng đóng thuế cho gói hàng 7 khâu, đứng tên Nguyễn văn Ức, giúp gia đình Diệu qua cơn hoạn nạn.
Nguyễn văn Phước té xe, nhiễm độc mà không có trụ sinh để chữa trị, Tài lại kêu gọi Đàm, và sau hai lần nhận quà, Phước đã có đủ trụ sinh cần thiết.
Một lần ở Gò Vấp, Tài gặp Nguyễn Duy Liêm. Liêm đang không cửa không nhà, phải ăn nhờ ở đậu. Liêm chỉ cần 5 ngàn tiền Hồ, để mua vé sổ số đi các bến xe bán, kiếm tiền độ nhật. Cũng bạn Đàm đã gởi mơ ước đó về cho Liêm.
Nguyễn văn Bảo đang túng quẫn không lối thoát ở trại gia binh Thị Nghè, ước mơ chút vốn nhỏ cho chị Bảo làm “đại lý bán lẻ”, đại lý chỉ mang một cái túi đựng từ nút áo, kim chỉ, đến bông băng thuốc đỏ, đi quanh các nhà trong xóm, để kiếm sống qua ngày. Thời gian ngắn sau, Bảo đến đập cửa, ôm Tài khóc, cho biết đã nhận được quà Đàm gởi. Chị Bảo có vốn liếng thực hiện giấc mơ “đại lý”. Bảo chỉ chiếc quần jean đang mặc, đã giữ lại không bán, để nhớ ân tình của bạn hữu phương xa.
Những chuyện tôi vừa kể, không biết thuộc vui hay buồn, nhưng nó thấm đượm tình bạn, chuyện Ân Tình “xin nhớ đừng quên”, làm chúng ta mỗi lần nghĩ đến là thấy ấm lòng.
Tuy giờ trí nhớ đã mờ nhạt, và chữ nghĩa cũng hạn chế, nhưng tôi ráng ghi chép về cuộc đời “đáng sống” của lớp người trong cuộc chiến “Quốc Cọng”, vì thời cuộc, tuy chưa thực hiện được hoài bão mình, nhưng đã sống cũng như chết, thật tròn đầy.
Mấy hôm nay vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa trên biển Đông. Đã càng ngày, thế hệ tiếp nối càng thấy “chính nghĩa” của chúng ta trong cuộc chiến vừa qua. Những bạn đã hi sinh để ngăn chặn nạn Cọng Sản hay chống quân xâm lược trên Biển Đông, đã hào hùng làm xong bổn phận mình. Họ đã vì lý tưởng, mà chưa tròn bổn phận với vợ con. Chúng ta có nên tiếp tay các bạn đó, để làm nguôi đi trong muôn một, nỗi thống khổ của vợ con họ không?
Chuyện chị Nguyễn Thành Banh, cũng như chị Đổ Hữu Tùng vừa qua. Chúng ta làm sao để các bạn ấy, vui vẻ mỉm cười vì thấy chúng ta vẫn không quên họ.

Nguyễn Cửu Nhồng