Đấu Tranh Trong Tù


Nguyễn Văn Biên

CSVN thích dùng “Luật rừng”. Bởi vậy, luật pháp công minh và giới trí thức là khắc tinh của CS. Xã hội VN, vấn nạn luật pháp đã trở thành: “Gậy ông đập lưng ông” cho đảng. Ví dụ, theo điều luật 79 và 88-HS: phải truy tố tên “Hán Ngụy”, Phạm văn Đồng, đã ký Công-Hàm năm 1958, dâng trọn biển Đông cho TQ và truy tố Bộ Công Thương đã tuyên truyền cho TQ: xâm chiếm HS&TS trên web mà bộ quản lý!!!???. Đến phiên luật sư nào sẽ làm đây?

 

Sau ngày 30-4-1975, VNCH bị bức tử, mọi tổ chức từ đoàn thể, đảng phái…, đều tan rã; quân cán chính chế độ cũ (VNCH) bị tập trung cải tạo (đi tù). Người dân ngỡ rằng đất nước thống nhất rồi, chế độ mới (CHXHCNVN) sẽ nỗ lực xây dựng đất nước an dân, nhưng đã không mà còn ngược lại. Đảng CSVN đẩy mạnh chuyên chính vô sản (khủng bố), vơ vét tài sản của nhân dân, ngăn sông cấm chợ, đánh tư sản…

Gần 20 năm (tính đến 1992) thanh bình, Đảng CSVN chỉ lo khủng bố, cướp bóc của nhân dân VN và đẩy mạnh xâm lược Cam Bốt. Đảng CSVN đã tạo nên một cuộc khủng hoảng rất trầm trọng trong xã hội: hàng triệu người dân VN phải bỏ nước ra đi tìm Tự Do và sự sống, lòng người ly tán, xã hội sa đọa đầy trộm cướp…

 

Tìm đường đấu tranh.

 

Thấy xã hội đảo điên mà đau lòng, chúng tôi bị “giã từ vũ khí”, muốn tranh đấu giành lại: tự do dân chủ, nhân quyền… cho người dân, tôi nghĩ phải tham gia vào một tổ chức nào đó.

Khi “Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc và Xây Dựng Dân Chủ” (PTTNDT&XDDC) phát động trong nước (1992), tôi đọc các bài: xã luận, tuyên ngôn, cương lĩnh,…mà bạn tôi cho xem. Tôi đồng ý góp một chút sức lực còn lại với Phong trào như bản án của Đảng CSVN đã viết: “Sau khi học tập cải tạo được Đảng và nhà nước khoan hồng trả tự do; thế mà Biên vẫn ngoan cố không từ bỏ tư tưởng chống đối cách mạng (CM). Được Đỗ Khanh tuyên truyền về “PTTNDT & XDDC”, y đã trực tiếp nghiên cứu ‘Cương Lĩnh và tuyên ngôn chính trị, đường lối hoạt động của PT’, y đồng ý và tham gia ngay”.

(Bài nầy tôi tường thuật, vì vậy “cái tôi đáng ghét” xuất hiện nhiều; có gì khiếm khuyết, xin quý độc giả cứ phê bình, tôi sẵn sàng tiếp thu. Thời gian mà tôi chống đối với Công An điều tra qua các cấp, đặc biệt ở trại Z30A (Long Khánh, ngã 3 Ông Đồn), có nhiều chiến hũu cùng tham gia như Đại úy Ng. H. Đào hiện định cư ở San Jose, P. T. Anh ở San Diago (mới qua năm 2008), anh Vân ở LA và thầy Thích Trí Lực ở Âu Châu…Muc đích, tôi viết ra đây tỷ mỷ nội vụ là tìm ưu khuyết điểm để học hỏi hay góp phần gì cho những người cần tham khảo, các cuộc đấu tranh vì Dân Chủ, Tự Do… trong nước đang tiếp diễn).

Theo tài liệu mà tôi đã đọc, được biết “PTTNDT&XDDC” đã lần lượt ra mắt ở:

                   Hoa Kỳ: ngày 11-12-1992.

                   Úc: ngày 20-02-1993.

                   Canada: tháng 7-1993.

                   Anh Quốc: tháng 9-1993.

 

 Trong nước, các chiến hữu đã thành lập PT từ tháng 6-1992 và phát động mạnh vào tháng 7-1992 với chủ đề “Dân Chủ để phát triển đất nước”. Mặc dầu công an thành phố Saigòn đã triệu tập các vị chánh, phó của PT nhiều lần, bắt ngưng hoạt động, nhưng các thầy trả lời: “Không”.

Trong nước, PT xúc tiến thuê hội trường ở khách sạn Metropole ở Saigòn (cuối 1993): chuẩn bị cho cuộc họp “Phát triển kinh tế ở VN”, soạn diễn văn, tài liệu, chương trình hội thảo…

Bên ngoài, Liên Minh Dân Chủ gởi giấy mời quan khách, những chính khách các nước có liên quan đến cuộc chiến VN: Tổng thống Nixon, cựu bộ trưởng QP Mỹ Mac Namara sẵn sàng tham dự nếu đôi bên thỏa thuận (Cao Minh Châu cho hay).

Các thành viên của PT (trong nước) nổ lực đi mời quan khách, vận động bạn bè tham dự…

Thượng tuần tháng 11-1993, giáo sư Stephen B Young đến Hà Nội và ngày hôm sau vào Saigon, ông bị cô lập ở khách sạn: Giáo Sư chỉ điện thoại cho thầy H (chủ tịch PT) biết “Lê Đức Anh ôm hồ sơ nội vụ đi Bắc Kinh thỉnh ý, nhưng Thiên triều không OK”, điện thoại bị cắt. Ngày hôm sau, ông giáo sư được công an thành phố Saigon hộ tống ra phi trường TSN để đi Thai Lan.

Võ Văn Kiệt được Đảng CSVN cử vào Saigon điều động CA vây bắt:

                    Bùi Kim Đính ngày 10-11-1993 (TTK/PT)

                    Trần Quang Liêm ngày 12-11-1993 (Quốc tịch Mỹ)

                    Nguyễn Tấn Trí ngày 13-11-1993 (Quốc tịch Mỹ)

                    Nguyễn Đình Huy ngày 17-11-1993 (Chủ tịch PT)

                    Phạm Tường ngày 17-11-1993 (Phó I)

 

 Những người sau đây tại ngoại, nhưng bị CA theo dõi thường xuyên, trình diện cơ quan điều tra mỗi khi có giấy triệu tập:

                    Nguyễn Ngọc Tân (Phó II của PT)

                    Đồng Tuy (Phó III/PT)

                    Nguyễn văn Châu (thành viên)

                    Nguyễn Văn Biên (thành viên)

Bốn anh em chúng tôi tại ngoại hơn một năm và cũng là khách hàng thân thuộc của công an điều tra phường, quận, thành phố và an ninh chính trị của Bộ Nội Vụ.

 

 Đối đầu ở văn phòng (VP) công an phường.

 

Sau khi các ông Chánh và Phó của PT bị bắt giữ, nhà tôi được công an phường Nguyễn cư Trinh canh giữ an ninh chặt chẽ ngày cũng như đêm, đôi lúc các quan lớn công an thành phố giả vờ đến mua thịt rừng, nhìn trộm vào nhà xem dung nhan tôi thế nào?

Thời gian vui qua nhanh, những lúc căng thẳng đi lại quá chậm: trong lúc nầy tôi cố nhớ lại những bài báo tôi đã đọc trước đây về các vụ điều tra chính trị, bài trừ Thiên Chúa Giáo mà CS Liên Xô, CS Đông Âu gian ác đàn áp …

 Ừ! Tôi thầm nghĩ: “Cái gì mà công an hỏi, tôi cứ khai cho thằng bạn (Đổ Khanh vừa đi Mỹ!) cứ khai cho anh ta, tài liệu nầy, giấy kia…, ông K đi Mỹ bỏ lại cho tôi.” Câu hỏi của điều tra viên, phải tìm cách “Đóng” lại, chủ trương của PT thì trả lời “Mở”: để tuyên truyền, trả lời bài viết (phúc trình): phải trước sau như một (giống nhau).

 

Tôi nói năng kém: hay nói thẳng không rào trước đón sau câu chuyện, vì vậy người ghét nhiều hơn thương, tôi cũng không thích những ai có tính như:

                                     Chưa làm đã nói,

                                     Chưa hỏi đã khai,

                                     Chưa thành đã mãn,

                                     Chưa đạt đã chán!

 

Công việc không mong lại đến, tôi nhận giấy triệu tập của công an phường Nguyễn Cư Trinh, có mặt lúc 8:30 ngày N 11-1993 để làm việc.

Ngày N tôi lên trình diện công an phường, nhân viên trực nhận giấy bắt ký vào sổ, rồi họ đưa tôi qua phòng điều tra.

      “Mời ngồi”, ông công an điều tra nói.

      “Cám ơn” tôi trả lời, đối diện tôi là 3 tên công an mặc áo vàng: sáu con mắt ngó vào tôi, không nháy mắt. Trong đầu tôi nghĩ: “À chúng mày dùng nhãn lực (thôi miên) khống chế đối phương! Kẻ nào yếu bóng vía, hai mắt ngó xuống bàn trước: thua, tự động nói ra hết.” Tôi nghĩ: “hai tên ngồi hai bên là học việc, tên ngồi ở giữa mới là chánh”. Tôi nhìn thẳng vào hai mắt tên công an ngồi giữa; mắt tôi không nháy, tôi tâm nguyện phải cương quyết đối đầu; nhiều lúc tôi cảm thấy trong đầu tôi trống rỗng nhưng tôi tự bảo! Phải quyết tâm: không nháy mắt trước, không ngó chỗ khác.”

Năm, mười, mười lăm phút trôi qua, thế rồi tên công an ngồi ở giữa ba tên, mở miệng hỏi:

     “Mấy anh tổ chức đảng nầy đảng nọ, nhà nước đã cấm: các anh vẫn ngoan cố…, anh biết không?”

     “Tôi ngồi đây”: tôi trả lời khô khan và trống rỗng để đóng câu hỏi của thẩm vấn viên đi.

Họ bắt tôi làm một bản tự thuật, khai báo và hỏi “tại sao tôi gia nhập PT” thẩm vấn viên còn lên giọng: “Đây là một tổ chức bất hợp pháp, biết không?”.

Tôi viết một tờ trình qua 4 điểm:

         1- Đảng CS thống nhất đất nước, nhưng không thống nhất được lòng người.

         2- Đảng CS chuyên chính mạnh tay, hàng triệu người bỏ nước ra đi, vậy phải có một tổ chức nào đó đứng ra hóa giải hận thù trong dân tộc, đoàn kết xây dưng quốc gia.

3- Nếu đảng CS chấp nhận chúng tôi là một thực thể: có tự do ngôn luận, có tiếng nói đối lập…: chúng tôi sẽ kêu gọi nhân dân đoàn kết dân tộc, xóa bỏ hận thù…để cùng nhau xây dựng đất nước…

4- Đảng CS đã chấp nhận kinh tế thị trường thì: “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” cũng lợi ích như kinh tế thị trường thế thôi.

Tôi viết xong tôi nạp, họ cho tôi về và bảo: “sáng mai trở lại làm việc”.

    “Cán bộ cho tôi nằm đây ngủ, sáng mai, tôi làm việc luôn”, tôi nói.

    “Không được, anh về nhà đi” CB/CA trực ban bảo.

 

Tội về nhà cơm xong là lấy giấy bút ra viết lại đầy đủ bài đã tường thuật ở công an phường: không sót một dấu chấm, dấu phẩy. Chúng sẽ hỏi lại các câu hỏi vừa rồi: ta cứ thế viết lại y chang. Viết thêm một chữ, chúng hỏi loanh quanh và kéo ra một ý và từ ý đó, thẩm vấn viên hỏi dài dài và khai hết mọi việc mà ta không muốn khai ra.

 

Ngày N+2, công an thay nhân viên khác hỏi tôi, cũng lý luận bài bác như nhân viên trước, cũng bắt viết bài tự thuât, lý do gia nhập PT, tự kiểm. Tôi viết lại những chi tiết đã khai báo: như lần khai trước, không sai một chấm phẩy.

Ngày N+5, lần nầy 4 thẩm vấn viên thay nhau hỏi tôi: mỗi người hỏi một câu… Một thẩm vấn viên gay gắt lớn tiếng: “Chúng tôi không cần bất cứ ai đứng ra hóa giải hận thù, chúng tôi tự làm”.

Sau câu nói hằn học của thẩm vấn viên, tôi trả lời:

    “Theo kinh nghiệm của các quốc gia khác, sau cuộc nội chiến: bên thua mặc cảm, bên thắng tự đắc, khó khăn ngồi lại với nhau, vì thế phải có một tổ chức nào đó để nối kết. Ví dụ như nhà nước nầy chấp nhận “PTTNDT & XDDC” là một thực thể, chúng tôi có được tự do ra báo, có giờ phát thanh của PT… Người VN trong cũng như bên ngoài nước: nghe, thấy, hiểu, biết, họ mới tin có hòa giải. Bao nhiêu năm qua, CSVN nói nhiều rồi: có ai tin đảng CS nói đâu.”

Thẩm vấn viên nghe tôi nói, anh ta nổi máu khùng: “Đồ phản động”!

     “Xin lỗi cán bộ, CB xem lại hồ sơ tôi, tôi đã xác nhận tôi phản động (như lời CS nói) từ năm 1959. Từ năm đó tôi đã gia nhập QĐVNCH cầm súng chống cộng rồi.

Thẩm vấn viên đi giải lao, người khác vào, anh ta hỏi thăm gia cảnh, làm ăn…Sau đó kết tội PT là phản động, muốn lật đổ nhà nước CHXHCNVN (đảng CS) còn ngang nhiên hoạt động công khai…

Tôi nghe anh ta nói cũng bực, tôi nói: “vì thế tôi ngồi đây”. Anh ta đưa một tập giấy ra, yêu cầu tôi ký vào: “Kể từ ngày N 2-1994, tôi không được hoạt động chính trị nữa!”

     Tôi phản đối-- không ký với lý do: bây giờ nhà nước không cho phép lập đảng, nhưng ngày mai cho phép: bây giờ tôi ký vào đây, khi đó tôi mất quyền làm chính trị. “Không: nhất định tôi không ký!”

 

 An ninh chính trị công an quận Một.

 

Trong quân đội (QĐ) khi chỉ huy một đơn vị, tôi luôn dẫn giải thuộc cấp phải tự tin chính mình trước để giải quyết mọi việc trước khi nhờ đến bạn. Trong QĐ, mỗi người có một cây súng, thấy mũi súng của họ có thể biết hướng họ tác xạ. Lãnh vực chính trị, dò tư tưởng con người hơi khó. Trước mặt phe ta, họ nói ghê gớm lắm, trước mặt địch: họ cúi mặt xuống.

Tôi nhận giấy triệu tập, đến sở công an quận Một Saigon làm việc khoản tháng 2-1994. Vào đầu lúc nào các điều tra viên cũng gợi ra các câu hỏi qua gia cảnh: thăm hỏi gia cảnh, nếu có ai than gia đình khó khăn thì cán bộ (CB) khuyên thật thà khai báo để CM khoan hồng, sớm về sum họp với gia đình…

Sau câu chuyện mở đầu, thẩm vấn viên vào đề: đả phá đường lối “Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” làm cho xã hội mất ổn định… Đất nước ta cần “Ổn định chính trị để xây dựng kinh tế”. Sau khi đương sự dứt lời, tôi nói: “Ví dụ như nước Ý, nước Nhật: sau Đại Chiến thế giới thứ II (thập niên 50-80), là những nước thất trận, xã hội của họ luôn luôn có các cuộc biểu tình chống đối bất công, đòi công ăn việc làm, một năm có khi chính phủ thay đổi một hay hai lần; tại sao họ vẫn nằm trong nhóm G7 (Nhóm 7 nước có nền kỷ nghệ phát triển nhất thế giới). Vi dụ như Nam Hàn và Bắc Hàn, Nam Hàn thập niên (50-80), mỗi năm xã hội của họ xảy ra gần cả trăm cuộc biểu tình lớn nhỏ, trong khi đó Bắc Hàn không có một cuộc biểu tình chống chính phủ: Bắc Hàn ổn định quá chứ!? Thử so sánh xã hội Nam, Bắc Hàn: xã hội nào phát triển hơn. Tôi nghĩ không cần phải “ổn định chính trị” mới phát triển kinh tế mà phải ổn định luật pháp: thượng tôn pháp luật (pháp trị) kia mà. Mỗi cuộc biểu tình là người dân chỉ cho nhà nước thấy, hiểu, biết: vì xã hội thiếu luật, công nhân viên nhà nước phạm luật, cường hào ác bá tạo bất công, tham nhũng…Nhà nước biết tiếp thu sửa sai, làm luật công minh chính đại, sửa luật lại cho thích hợp, dần dần các cuộc biểu tình giảm…

 

Thẩm vấn viên cắt lời tôi nói và hỏi: “Anh nghĩ gì về ông Huy (Chủ tịch PT)?”

    -- Nếu tôi nói về ông H., không khách quan, sai nhiều. Có ông ở đây, CB hỏi ông, chắc chắn đúng hơn.

    -- “Ông Đồng Tuy viết lách nhiều không” CB thẩm vấn hỏi:

    -- Tôi thấy ông ngủ không: ông thầy bệnh, nằm nhiều hơn ngồi. Tôi tìm cách “Đóng” các câu hỏi của họ lại…

 

Khẩu chiến với công an thành phố.

 

Tôi được giấy triệu tập đến trình diện công an thành phố Saigon tại cơ sở ở bến Bạch Đằng (Cơ sở cũ của trung ương tình báo).

Một buổi sáng ngày N 1994, tôi đến văn phòng công an (VP/CA) thành phố theo giấy triệu tập. Sau thủ tục, tôi vào gặp ông Thượng úy Nguyễn Xuân Nam, ông ta chào hỏi tử tế, mời tôi ngồi và hỏi:

      “Anh cải tạo bao nhiêu năm ở trại tù, có găp ông Huy trong trại cải tạo không?”

      Tôi trả lời: “có”

Xuân Nam nói: 

     “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” và tiếp:

     “Các anh lập đảng phái để lật đổ nhà nước CHXHCNVN, các anh là phản động…

Tội nhìn thẳng mặt Nam và nói: 

     “Xin lỗi, CB xem lại hồ sơ của tôi, tôi phản động từ năm 1959, tôi đã gia nhập QĐVNCH chống lại đảng CSVN rồi.”

Nam nén giận, không chọc tức tôi nữa (Khen, chê... là nghệ thuật của ngành khai thác), anh ta bắt tôi viết tường thuật lại nội vụ: từ khi tôi gia nhập Phong trào, đi vận động anh em gia nhập PT.

Biết rồi, tôi nghĩ: “phải mời ông Vũ Như Cẩn ra giúp tôi khai báo lại”.

 

Tôi nhớ có một ngày trong tháng 11-1994, cũng thẩm vấn viên Ng. X. Nam, anh ta đem hồ sơ anh em chúng tôi ra xem và bài bác:

    “Làm chính trị cái gì, một thằng trung sĩ, một tên trung úy y sĩ, đi cải tạo lên cải tạo xuống bao nhiêu lần, cũng ra làm chính trị. Tôi học 4 năm trong trường (đại học công an CS), ra trường 3 năm, lên thượng úy, đang thẩm vấn các anh (anh ta tự khoe khoa bảng) --   Ông trung sĩ chiến hữu của chúng tôi đã giải ngũ và đắc cử nghị viên hội đồng tỉnh.

    Trong đầu tôi nghĩ: “Tên Đổ Mười, tên Lê Đức Anh là thứ gì: một tên là thằng mõ, hoạn heo, một tên là phu đồn điền cao su mà bọn chúng đang tôn thờ; bây giờ tôi chụp bát nhang của chúng, ném vào thùng rác, chắc có chuyện.Thôi lịch sự với nhau chút xíu.

Tôi nhìn thẳng vào mặt Nam. Xuân Nam nhìn tôi và nói: 

    “Không phải nói ông đâu”

Tôi trả lời: 

    “Xin lỗi CB, tôi lấy một ví dụ bên ngoài thôi. CB có biết ông tổng thống Algerie trước đây không: Tổng thống Bu-mê-điên đó (Boumedienne). Tôi nói tiếp: năm 1946, ông ta ở trong quân đội Liên Hiệp Pháp; qua VN, ông ta là hạ sĩ. Năm 1954, ông ta về nước với cấp bậc trung sĩ, ông tham gia phong trào đòi quyền độc lập cho Algerie, rồi ông lên làm Tổng Thống, dưới quyền của ông một số lớn nào là tiến sĩ, thạc sĩ, kỷ sư, bác sĩ… làm phụ tá cho ông. Tôi nghĩ: “Mao Trạch Đông nói cũng đúng: “Những tên khoa bảng không bằng một cục phân” (chỉ tên Nam). Tôi thấy mặt tên Nam tái xanh mét, tay hơi run, đôi môi rung rung; độ chừng 30 giây, y mới lắp bắp:

      “Ờ họ phụ tá, phụ tá, phụ tá”.

Từ đó tên Nam nói năng bớt xấc láo và không tìm cách thuyết phục tôi nữa (biết tôi vô phương dụ dỗ).

 

Mấy tháng sau xuất hiện tên thẩm vấn khác, cũng cấp bậc thượng úy, tên Nghiệp hơi lối, rất thuộc bài vở giáo thuyết CS đảng, thường lên lớp: Mấy anh định lật đổ nhà nước CHXHCNVN, mấy anh viết ra Hiến Pháp nào là tam quyền phân lập: lập pháp, hành pháp, tư pháp nào là pháp quyền… Y nói tiếp: mấy anh có mấy người, đòi nói chuyện ngang hàng với chúng tôi.

     “Nếu chúng tôi có yêu cầu đứng ra hóa giải hận thù cho dân tộc VN, chúng tôi có thể vận động khối Viêt Kiều hơn ba triệu người, họ sẽ đóng góp nhân, trí, vật lực để xây dựng đất nước… như chúng tôi đã trình bày: nếu chúng tôi được công nhận là một thực thể”, tôi trả lời.

Tên Nghiệp nhìn tôi và nói: 

     “Nhà nước nầy cũng có hành pháp, lập pháp, tư pháp đấy”

Tôi nói: 

     “Xin lỗi CB, trong các nước CS, độc đảng, nhà nước có tam lập, tứ lập hay ngũ lập thì cũng là một: đảng sai khiến làm gì thì các cơ quan phải làm nấy thôi.”

Tên Nghiệp nhìn tôi có vẻ bực bội: 

     “Tôi đưa anh ra tố tụng”

     “Vâng. Chúng tôi đang chờ!” tôi trả lời.

Thời gian thẩm vấn, chậm lại để viện kiểm sát đúc kết làm cáo trạng nên 4 chúng tôi còn tại ngoại được vài tuần nữa. Bốn anh em chúng tôi đều nhận giấy triệu tập, phải trình diện phòng điều tra thành phố sáng ngày 11-2-1995. Trưa cùng ngày, Công An chở chúng tôi về nhà và đọc lệnh giam chờ ra tòa, chiều cùng ngày, CA thành phố đưa chúng tôi đến Khám Chí Hòa.

 

Khám Chí Hòa.
Chín người trong anh em chúng tôi bị phân chia ở 9 phòng riêng biệt với anh em tù hình sự, trước khi vào phòng giam, mọi vật dụng cá nhân phải gởi lại văn phòng trại giam, mỗi người chỉ được mặc đồ lót: sau đó trại phát hai bộ đồ tù. Phòng tôi có ba người: một ngoại kiều (Đài Loan) tội cờ bạc, một anh Ba Chợ Lớn làm nghề nghiệp mua bán ve chai (tội giết người) và tôi. 

Khi tôi vào phòng giam, giám thị gọi anh ve chai lên phòng, anh ngoại kiều cho biết: 

    “Nó làm Anten cho trại”. Tôi bảo: 

    “nguyên tắc trại giam, phòng giam nào cũng có một hoặc hai người chuyên báo cáo cho quản giáo.”

Khi anh ve chai về lại phòng, tôi nói: 

    “Tôi đã đi cải tạo rồi, nguyên tắc phòng giam, CB thường chỉ định một hoặc hai người lo báo cáo cho giám thị. Tôi khai báo hết rồi, ai có nhiệm vụ theo dõi, báo cáo, tôi nói cho mà báo cáo về tôi”. Anh ve chai tự thú: 

    “CB bảo ngộ theo dõi nị, nhưng ngộ biết cách báo cáo mà không hại nị đâu”.

Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại, để giết thì giờ, tôi bắt chuyện với anh ngoại kiều: 

    “Tại sao anh qua VN rồi vào tù”? A Minh thổ lộ:

    “Ngộ qua VN mở VP làm ăn ở Hà Nội: xin giấy phép lập công ty xe Taxi, được giấy phép ngộ sang lại cho bạn, kiếm 5000 đô. Trong thời gian đó ngộ có thuê một cô thư ký, thuê khách sạn cho cô ta ở; nửa đêm ngộ hứng, ngộ đè cô, ngộ chích. Cô thư ký có bầu; ngộ năn nỉ quá trời, đưa cho cô 2000 đô đi phá thai, ngộ bị vợ ngộ xỉ vả một trận: ‘Đồ hèn, có gan chơi thì có bổn phận nuôi con, nị muốn chơi chạy, cứ chạy đi, để ngộ sinh con, ngộ nuôi’. A Minh nói tiếp: 

    “Ngộ sang cho vợ ngộ một cái sạp vải ở chợ An Đông. Một hôm, bạn bè rủ ngộ chơi vài ván bài cho vui, bị công an bắt, ngộ vào đây”. Ở với A Minh được 3 ngày: A Minh được lệnh chuyển phòng. 21:00G cùng ngày, giám thị tống vào phòng giam một ngoại kiều khác, tên Michael quốc tịch Canada gốc Malaysia: tội lừa đảo. Y cho biết: “Vợ chơi hụi, bị bể hụi; con hụi thưa. Y đã về Malaysia xin tiền: trả lại cho các con hụi hết rồi; các con hụi đã làm giấy bải nại cho công an rồi. Công an không thu hồi lệnh truy nã mà bắt ngộ vào đây để đưa ra tòa. Tôi bảo: 

    “Vợ chồng nị về hết, nị phải để cho vợ nị về trước; nếu không vợ nị có án tù đấy”. Micheal nói: 

    “A Biên vẽ cho ngộ được không”? Tôi hướng dẩn Michael:

    “Khi ra tòa nị phải mạnh dạn nói như thế nầy: trước khi đến làm ăn ở VN, ngộ đã tìm hiểu tâm lý tình cảm của người dân VN, ngộ thấy đàn bà VN rất thương con; trong thời gian ở tù; ngộ thấy vợ ngộ thương, nhớ con, khóc hoài, ngộ không biết làm sao an ủi vợ ngộ. Trong vụ án nầy, ngộ không biết thế nào, nếu vợ ngộ phải ở tù, xin tòa cho ngộ ở thế, cho vợ ngộ về nuôi con, ngộ thấy tội con, thương vợ lắm”. Trước khi ra tòa, tôi thấy Michael lẩm bẩm trong miệng hoài.

Ngày Michael ra tòa, tôi và anh ve chai chúc Michael may mắn. Khi Michael ở tòa về, chúng tôi hỏi y: 

    “Tòa xử sao rồi”. Michael (M) cho biết: 

    “Vợ y bị ba năm tù treo: về rồi. Y sẽ chống án lên tòa phúc thẩm. Y còn mô tả trong phiên tòa khi công tố luận tội xong: luật sư của y đứng dậy bào chữa cho y; y kéo luật sư ngồi xống và y đứng lên nói một lèo, y thấy trong phòng im im hết”. CB công tố nhạo báng: 

    “Nị nói nị không biết tiếng Việt, sao nị học thuộc, nói hay quá thế”!

Tòa nghỉ luận án, luật sư hỏi: 

    “Ai dạy nị nói vậy”? M. cho biết: 

    “Trong phòng có ông tù chính trị và Michael hỏi lại luật sư, nói vậy có được không”? Luật sư: 

    “Tốt, bà chánh án cũng đồng ý, Michael ra tòa trên thì cũng án treo mà thôi”.

Michael chờ ra tòa phúc thẩm nên chuyển phòng; hai tháng sau, y ra tòa phúc thẩm và cũng bị kêu án 3 năm: tù treo.

Đặc biệt người Hoa, biết cái gì buôn bán đồ lậu là họ nhảy vào ngay; tôi thấy khi M bị tống vào phòng giam, y khóc bù lu bù loa. Y nghe anh ve chai nói về mua bán chất uranium (tiếng lóng đồng đen), tôi đang ngồi trên cầu tiêu, thấy mặt M tỉnh lại liền, lắng tai nghe anh ve chai nói (hai anh nầy nói bằng tiếng Triều Châu) về mua bán đồng đen.

    “Đừng cho A Biên biết”, M nói với anh ve chai. 

Tôi nói: 

    “Tôi biết rồi, có một số người buôn bán chất uranium rồi chém giết nhau”.

(Năm 1988, tôi đọc trên báo Saigòn Giải Phóng, tác giả bài báo nói lệch đi là QĐ Mỹ để lại một ít chất uranium ở phòng thí nghiệm tại sân bay Nha Trang). 

Sau đó anh ve chai cho biết: Năm 1976, một hạm đội của Liên Xô ghé thăm cảng Đà Nẳng: thủy thủ đem lên một số thanh uranium (U) để bán. Trước tiên, thủy thủ đòi đổi 1kg U lấy 10 kg vàng 4 số; các anh Ba Chợ Lớn ra mua, nhưng không ai mua nổi. Gần đến ngày tàu rời bến: U rớt giá xuống một đổi một; có một số, không ai mua, thủy thủ phải bỏ để lên tàu rời bến vì vậy có sự tranh giành chém giết nhau. Theo kinh nghiệm của anh ve chai: bảo quản U bằng vỏ bình ac-quy (có bọc chì) là tốt nhất. Khi chuyển vận U, không ngồi gần máy xe vì máy sẽ không nổ. Đưa kim loại vào gần U, kim loại bị đẩy ra. Đưa kính soi mặt vào gần U, thủy ngân phía sau bị đẩy gây nên dợn sóng … M. cho biết: “Y có cách di chuyển U an toàn được bằng cách lấy giấy carbon (giấy đánh máy chữ) quấn lại. Tôi cố góp chút ý kiến: giấy carbon có than chì chống phóng xạ tốt, còn chất thủy ngân, tôi nhớ lý tính của nó: không phải chất khí, không phải chất lỏng, cũng không phải chất rắn vì vậy mà nó bị đẩy dợn sóng. M. cho biết: “Ông nội của y, buôn bán ma túy; ông luôn luôn có một số tiền lớn trong túi gọi là tiền chuộc mạng, khi bị an ninh bắt là chuồi tiền ngay để chạy.

A Minh nói: “Trên một chuyến bay từ Lào đến Úc, quá cảnh ở Mã-Lai, có một cô gái bồng đứa con nhỏ tuổi. Thằng bé khóc quá, cô ta vừa dỗ con vừa xách túi áo quần một cách khó khăn. Có vị khách thương tình, xách giúp túi áo quần cho cô; khi đi ngang trạm kiểm soát, nhân viên an ninh giữ lại. Ngưòi xách giúp ngó lui không thấy cô bồng con; nhân viên an ninh khám xét có ma túy, theo luật Mã Lai, ông khách có lòng nhân từ bị án tử hình.

Trước năm 1975, tôi có một ông chú; cuối tuần, ông thường cho gọi cháu chắt đến ăn cơm gia đình. Ông nói: Người Hoa làm ăn bất cứ thứ gì, có thể làm lậu được, họ mới làm”. Ông hỏi: “Tại sao y dược ở VN (trước 1975) người Hoa họ không đầu tư như cho con cái học, ngành nào họ cũng có đầu tư hết”. Ông giải thích: “Thuốc Tây, tổng thống Thiệu cho dược sĩ Thăng độc quyền. Người Hoa không có mua bán được, không làm lậu được nên họ đồng lòng bỏ không đầu tư vào lãnh vực đó”, ông chú tiếp: “Tôi làm ăn với người Hoa, nay đã 60t mới hiểu cung cách làm ăn của họ…”.

 

Không thuê luật sư.

 

Chúng tôi đã hiểu các vụ án chính trị, có thuê luật sư CS cũng không cho bào chữa, hơn nữa các luật sư là luật sư quốc doanh mới hành nghề được, vì thế chúng tôi quyết định tự bào chữa.

Theo tổ chức của đảng CS, ở đâu cũng có chi bộ đảng, vì vậy trước phiên tòa, chi bộ họp và ấn định mức án cho mỗi phạm nhân mà CS muốn; người dân gọi đó là “Án túi”.

 

 Ngày ra tòa

 

Ngày 20-2-1995, lúc 8:00G, CB khám gọi chúng tôi rời phòng giam để ra tòa; hơn một năm, chúng tôi mới gặp mặt nhau, anh em đều vui vẻ, thăm hỏi nhau, khích lệ tinh thần nhau.

Tại tòa, qua thủ tục, chánh án đọc lại lý lịch từng người, đến phiên công tố luận tội…

Biện hộ, mỗi phạm nhân được nói vài câu thì bị chánh án ngắt lời, không cho nói…, ai nói thêm, chánh án ra hiệu tắt máy hoặc cho công an lên áp giải về chỗ ngồi, ví dụ như LM Lý.

Các anh như: Nguyễn Tấn Trí, Phạm Tường nói được vài phút là chánh án không cho tự biện hộ. Chánh án cứ nói: “Anh nói rồi…, thôi mà…, anh nói nhiều rồi mà…”.

Anh Trí cố viện dẫn lý lẽ để tự bào chữa, nhưng chánh án (sợ tranh luận): yêu cầu về chỗ. Tôi thấy 2 tên công an đi đến vành móng ngựa, anh Trí biết không nói thêm được, phải về chỗ ngồi. Tôi mong mấy thầy: trưởng và phó…lên hùng biện như lúc PT mới phát động, nhưng mấy thầy nói quá yếu!

 

Phiên tòa sơ thẩm, xử án chín người, thời gian xử án là 12 giờ: thủ tục, kiểm lại lý lịch từng người, luận tội của công tố, chánh án dẫn luật, nghỉ giải lao, họp nghị án…, chiếm hơn 11 giờ!!! Kết quả vụ án phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” như sau:

               Nguyễn……..

               ………..

               Nguyễn văn Biên: 8 năm tù, phạt quản chế sau khi mãn tù là 5 năm và tước đoạt quyền công dân.

Trần Quang Liêm không chốnh án, 8 người chống án: lý do tòa không cho tự biện hộ.

 

Trở lại khám Chí Hòa.

 

Thời gian chờ đợi ra tòa phúc thẩm: CB khám Chí Hòa cho tôi ở cùng phòng với thầy Bảy Bốp (Ng Ngọc Tân), tức nhà báo Phạm Thái. Thầy Bảy tôi xem như quyển tự điển sống, tôi hỏi đủ mọi thứ chuyện trên đời từ Tây sang Đông, Hòa Hảo, Cao Đài, và các đạo khác trong Miền Nam mà tôi chưa biết hết…

Một hôm tôi gợi ý điều tôi thắc mắc: “Tôi là dân Miền Trung, chiến tranh nhiều hơn Miền Nam, khi vào Nam phục vụ, tôi thấy nhà dân trên bàn thờ có nhiều ảnh người trẻ, có nhà 2-3 ảnh, vì sao vậy”?

    “Mầy không biết sao?”, thầy nói, và tiếp “Năm 1946, Mai Chí Thọ, giám đốc Công an Cần Thơ; tao với Dương Quang Tiếp bị bắt giam, sau đó 2 đứa tao được ra làm tạp dịch quanh trại. Mỗi ngày tao thấy Việt- Minh (VM) đi bắt dân Hòa Hảo về nhốt vào các trại giam nhiều lắm; chúng chia ra hai hạng, anh em trẻ, ngày ngày chúng (VM) bắt đi đào hố, đào mương, đào ao; người già ở trong phòng giam, giám thị đôi cho mấy bao bố gai (loại đựng gạo 100kg), chúng bắt anh em tù tháo sợi gai ở bao ra và xe thành giây thừng. Trước khi trời tối, CA/VM đến mỗi trại giam, đọc danh sách một số người (tù HH), gọi ra, chúng trói lại, dẫn ra mấy hố đào sẵn; chúng đập đầu và đạp xuống hố, rồi chúng đem các khúc cây đập đầu người ta tuơ ra, chúng đôi trước mặt phòng giam… Mỗi buổi sáng, chúng bắt tao (thầy Bảy Bốp) và Dương QuangTiếp, ra kéo bèo, rau muống, lấp lai; tao thấy những cọng rau lay động mà không làm gì được. Thời gian nầy ở giữa Châu Đốc và Trà Nóc (Cần Thơ) có một hố VM chôn hơn 3000 người HH, sình thối, mùi hôi làm cho dân sống quanh vùng đó phải di tản”. Tôi hỏi: 

    “Thầy ước lượng VM giết anh em HH bao nhiêu người”? Thầy thở dài: 

    “Mỗi đêm, một trại từ 20-30 người bị đập đầu, trên toàn Miền Nam trong thời gian nầy; tao ước lượng 300,000 HH bị giết”!

Tôi ngẫm nghĩ: “CS vẫn gây tội ác trong dân nhiều quá như: các tôn giáo, cải cách ruộng đất (đấu tố để cướp của), đánh tư sản (ăn cướp ngày), cướp nhà cửa, ruộng, vườn, tạo ra bao oan trái trong xã hội-- làm sao đất nước nầy hóa giải hận thù cho được đây? Chỉ có khi nào đảng CS biến khỏi trên đất nước VN: mới mong thống nhất được lòng người”.

 

Tòa phúc thẩm.

 

Cuối năm 1995, chúng tôi lại ra tòa phúc thẩm. Một trò hề xét xử lại tiếp diễn: chánh án, bồi thẩm, cũng cái trò ăn nói cù nhầy để cho hết thời gian, gọi là phiên tòa. Chánh án luôn nói:

    “Thôi mà, nói rồi mà…”.

Chúng tôi, không ai biện hộ quá 2 phút; chánh án rất sợ anh em tù tranh luận với họ. Cuối phiên tòa, chánh án tuyên bố: 8 người đều y án. 

Chúng tôi trở lại khám Chí Hòa: chờ giải qua trại giam khác.

Trong khi đó, các chiến hữu: Nguyễn Tấn Trí và Lê Quang Liêm được CA /CS hộ tống ra phi trường TSN, lên máy bay tống xuất về Mỹ.

Nằm chờ chuyển trại, trong đầu tôi cứ nghĩ đến thành ngữ; “Dân giàu, nước mạnh”; mà người bạn cho biết: “Có một lần thầy Nguyễn Ngọc Huy nói chuyện, thầy ví nước Mỹ như là cơ thể con người đi bằng hai chân. Khi đảng Cộng Hòa đắc cử trở thành đảng cầm quyền- mặc dầu thời bình, nhưng họ vẫn lo cho binh hùng, tướng mạnh, có những lối đối ngoại mạnh, bạn bè khâm phục, thân thiện, kẻ thù e sợ; quảng bá mọi chủ trương đường lối giao thương, làm ăn… của Hiệp Chủng Quốc trên Thế Giới.

Khi đảng DC tham chính: quân lực đã hùng mạnh rồi, hành pháp của Đảng DC chú trọng phúc lợi người dân: tạo công ăn việc làm, cải tổ y tế, lương bổng…(Làm cho dân giàu).

Tôi mơ ước VN cũng có đa đảng, nhưng có 2 đảng mạnh: một đảng mang tính Dân Tộc, một đảng có tính Xã Hội (không phải XHCN). Chúng ta đã có học thuyết “Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn”, triển khai mà dùng; không phải vọng ngoại, nhập Mac-Lê, Mao- làm băng hoại mọi mặt trong xã hội cả đất nước. Các đảng mạnh thay nhau tham chính: đó cũng là luật âm dương hòa hợp, xã hội Phương Đông yêu chuộng, sẽ ổn định lâu dài, tránh nạn độc tài..

 

 Đến Z30A (Xuân Lộc).
Sau Tết Dương Lịch 1996, Công An/CS  áp giải 7 người chúng tội đến trại Z30A-ngã 3 Ông Đồn. Z30A có nhiều phân trại, mỗi phân trại có từ 200 đến 500 tù, tùy theo đất canh tác của trại.

 

 Phân trại K3.

 

 Ngày N+1, bảy anh em chúng tôi được giao cho phân trại K3; giám thị trại cho tất cả chúng tôi vào đội A. Ông đội trưởng là một thượng úy VC phục viên, bị án vì tội giết vợ. Ông ta bảo với ông đầu vụ của chúng tôi: “Ai muốn mua gì, gởi sổ tiền (trại không cho tù giử tiền mặt, sợ trại viên trốn trại)”. Anh em nhóm chúng tôi: gởi sổ mua hàng, tôi có 300,000 đg và tôi cũng gởi sổ nhờ anh HS mua một ít đồ dùng.

Mười giờ sáng N+2, chúng tôi được lệnh chuyển đến trại K1. Sáu người được trả lại sổ tiền lại, trừ tôi, nhân viên tù hình sự (HS) của đội A đi mua đồ, họ lánh mặt, không trả sổ cho tôi. Đến trại K1, nhiều lần tôi làm đơn khiếu nại, gởi đến K3, nhưng không được trả lời (1)

 

 Phân trại K1.
Sơ khởi, chúng tôi được chia ra các đội:

        Ông số 1 vào đội nhà bếp.

        Ông phó 2, phó 3 (P2,P3) và chú Châu vào đội già-yếu (tạp dich quanh trại).

        Ông P1, tổng thư ký (TTK) và tôi vào đội 1 tù chính trị, đi lao động hàng ngày.

Tôi đi lao động được hai tuần, và cuối tuần thứ ba, có lệnh Ban Giám thị trại (BGT), các đội phải đi lao động ngày chủ nhật. Lệnh của Ban Giám Thị bắt phải tuân hành lâu rồi; ai phản đối đều bị cùm kỷ luật cho đến khi nào nhận lỗi và hứa thi hành lệnh lao động tốt mới được tha. Tôi không nhớ ngày, vào khoảng giữa tháng 2-1996, tôi yêu cầu gặp ông đầu vụ của tôi (trong trại chúng tôi chỉ gặp nhau lén thôi, ang ten trại luôn theo dõi) trong 5 phút để tôi trình bày kế hoạch phản đối “đi lao động ngày chủ nhật”. 

Trước giờ đi lao động, ông trưởng của chúng tôi cũng chịu khó ngồi nghe tôi trình bày:

    “Theo nội quy của trại giam, ngày chủ nhật trại viên được nghỉ lao động, nếu vụ mùa cần kịp thời vụ, trại viên phải đi lao động trong ngày chủ nhật, BGT phải cho trại viên nghỉ bù một ngày trong tuần sau đó, nhưng ông thiếu tá Lại Xuân Hùng, phân trại trưởng K3, bắt trại viên đi lao động ngày chủ nhật mà không cho nghỉ bù; bây giờ chúng ta phản đối, không đi lao động ngày chủ nhật”. Ông đầu vụ của chúng tôi trả lời: 

    “Chúng ta không có nhu cầu”.

    “Đã bước vào chính trị, thấy bất công thì phải đấu tranh cho người bị áp bức; bênh vực quyền lợi được cho mọi người, khi cần mình kêu gọi, người ta mới theo mình, thầy không làm để tôi làm”, tôi trình bày. Chúng tôi tan hàng về đội đi lao động.

 

Phản đối lao động ngày chủ nhật lần I.  

 

Ngày chủ nhật cuối tháng 2-1996, các đội lao động (trại có 3 đội tù chính trị: 2 đội đi lao động và một đội già yếu bệnh tật làm việc nhẹ quanh trại) chuẩn bị đi lao động ngày chủ nhật gọi là LĐXHCN; tôi vẫn mặc đồ ngủ, mấy người khác thúc giục:

      “Thay đồ  đi lao động”! 

     "Ngày chủ nhật nghỉ mà,” tôi trình bày.

Các tù viên trong đội nhìn tôi như có vẻ thách thức; họ nghĩ: tôi sẽ bị tống giam như nhiều người đã bị, nhiều người nhìn tôi như có ý thăm dò tôi có quyết tâm không.

Sau khi các đội đi lao động, lúc 8:30G sáng, CB trực ban đến các buồng điểm danh những người còn ở nhà. Trại viên trực buồng báo cáo:

    "Đội 2 có 5 trại viên không đi lao động: một trực buồng, 3 bệnh và một nghỉ ở nhà không lý do". CB trực hỏi: 

    “Ai”? Tôi trả lời: 

    “Tôi, Nguyễn văn Biên”! CB trực ban: 

    “9 giờ anh lên văn phòng (VP) trại làm việc”?

    “Vâng”, tôi trả lời.

 

 Đối đáp với CB trực.

 

Tôi đến VP trực ban, CB trực, lớn tiếng kết tội: “Lệnh của BGT đi lao động, anh phản đối, anh còn xách động các tù viên khác nữa…”.  Tôi trình bày: “Theo nội quy của trại: ngày chủ nhật, trại viên được nghỉ, nếu vì nhu cầu sản xuất mà phải đi lao động ngày chủ nhật, thì BGT phải cho trại viên nghỉ bù một ngày trong tuần sau đó. Trại không thi hành, còn nói tôi phản đối, xách động…, tôi nghĩ Lenin nói đúng ‘Ở đâu có bất công, ở đó có đấu tranh’ ”. CB trực: 

    “Anh làm cho tôi bản kiểm điểm nêu rõ lý do”.

Tôi ngồi viết bản tường trình nêu rõ những lý do như đã nêu trên và thêm các ý như: “Sau một tuần làm việc, phải để cho trại viên (tù viên) có thì giờ làm vệ sinh cá nhân, dưỡng sức…. Xong tôi nạp cho CB trực; rồi về buồng.

Hôm đó, bà con ở Saigon rủ nhau lên thăm nuôi, tôi không được ra thăm gặp: thật ra gia đình tôi chả có ai lên thăm, có ông bạn Xuân trong PT, xin phép đi thăm tôi, nhưng cũng khó khăn lắm. Quà cáp cho tôi: vợ chú C chạy đến mấy người bạn cùng vụ, xin ít tiền, mua chục gói mì…Chú C đem vào cho tôi; tội nghiệp chú ấy, bị CB trực gọi lên làm việc sau đó.

- 18:30G ngày chủ nhật hôm đó, một tù viên (HS) làm tạp dịch trên phòng an ninh trại, về buồng của y, trước khi CB đến khóa cửa buồng. Y cho anh trật tự biết: “Ông Biên bị cùm 7 ngày, ngày mai (thứ hai) CB trực đọc lệnh và đem đi cùm”. Anh trật tự vào nói ông đầu vụ của chúng tôi: “Chạy lo cho ông Biên”. Chú C chạy qua nói với tôi ý đó. Tôi bảo: 

    “Không! tôi cố tình phản đối bất công của BGT trại”.

- 6:00G sáng thứ hai mở cửa buồng, mọi người chuẩn bị đi lao động; anh em tù chính trị rất lo lắng cho tôi. Chú C ở đội già yếu bệnh tật chạy qua đội tôi, lo lắng và an ủi tôi:

    “Anh mặc thêm một bộ áo quần nữa đi: trong phòng giam cùm, muỗi dữ lắm”. Tôi nhìn người bạn đầy hảo cảm, lo cho tôi và nói:

    “Cám ơn chú”, tôi tỉnh bơ, không quan tâm đến bị cùm.

- 6:30G anh tù viên trên P/AN xuống báo: 

    “Ban cho người xuống thu hồi lệnh phạt rồi”. 

Chúng tôi đi lao động; mặc tình cho các tù viên suy diễn.

 

Hờ hững của các đồng chí cùng vụ.

 

Ông nầy nói: 

    “Chú Biên muốn làm Anh Hùng”!

Một cụ khác cằn nhằn: 

    “Nó muốn lên tướng mà xách trung đội đi hành quân”.

Sau đó ông chánh và ông P có đề nghị với tôi, nếu anh (tôi) cần tiền để lo lót cho BGT, ra giữ vườn điều, ao cá, trại gà, mỗi tháng chung cho BGT số tiền 150.000 đông: các ông sẽ giúp. Tôi buồn bực đã phụ lòng tốt của các đồng chí; tôi nói: 

    “Cám ơn (sư quan tâm không đúng), không”.

Trong thời gian nầy, tôi luôn luôn yêu cầu đội trưởng của đội tôi trình với CB buồng nói với BGT cho đội có một buổi kiểm thảo để tôi trình bày lý do. Khi đi lao động, tôi gặp thẳng CB quản giáo nêu yêu cầu đó nhiều lần. CB bảo: “trình trên rồi, chờ”.

Tôi nghĩ BGT không cùm tôi: chúng đang tính toán gì đây, chờ xem sao. Thời gian nầy, anh em trong đội của tôi, cũng như các anh tù chính trị khác bàn tán nhiều; một số khác tỏ ra ủng hộ tôi mạnh hơn: nhưng bằng phát biểu mỗi khi CB hỏi mà thôi, chưa có hành động mạnh mẽ.

 

Phản đối lao động lần thứ II.

 

Cuối tháng 4-1996, lại có ngày chủ nhật, các tù viên phải đi lao động. Ngày hôm đó, tôi lấy cớ đau chân khai bệnh, bà thượng úy y sĩ bảo: 

    “Anh đi lao đông”.   Tôi chỉ vào bà và nói: 

    “Tôi không đi lao động, tôi nghỉ: bệnh”!

CB trực ban điểm danh buồng xem những ai không đi lao động, và bảo tôi lên làm việc với phòng an ninh trại. 9:00G tôi đến phòng an ninh, ông thượng úy trưởng ban nói phủ đầu:

    “Lao động ngày chủ nhật là nhu cầu sản xuất của trại: đây là lệnh của BGT, anh phản đối phải không. Anh đã có 8 năm án rồi, anh muốn án chồng án. Traị sẵn sàng đáp ứng cho anh…” Tên CB dứt lời. Tôi trả lời: 

    “Mùa nầy là mùa nắng, tôi chả thấy trồng trọt gì cho vụ mùa. CB hãy nhìn ra cổng trại; CB thấy câu khẩu hiệu không: ‘Sống làm việc theo Hiến Pháp và Pháp Luật’đấy. Nội quy của trại: cũng là pháp luật đấy. Lenine chỉ rõ: “Ở đâu có bất công, ở đấy có đấu tranh”.

CB an ninh: 

    “Anh làm cho tôi bản kiểm điểm nói rõ mọi sự việc…”.

Tôi về phòng, làm kiểm điểm: thứ hai đem nộp, chờ kỷ luật trại. CB trực trại, CB an ninh đều làm phúc trình lên BGT trại và đề nghị cùm tôi 7 ngày.

 

Quan tâm của tù viên chính trị.

 

Anh em trong đội cũng như các anh tù chính trị khác, tìm cách khích lệ tôi, trong thời gian căng thẳng nầy, BGT cho gọi một số người lên tác động tâm lý: hỏi về tôi để mớm cho những câu nói kết tội tôi nào là chống đối, xách động, xúi dục…Mục đích của trại khích lệ những người họ gọi lên, sẽ đấu tố tôi trong các buổi họp kiểm thảo…, các trại viên nầy được đề nghị giảm án (trại chuẩn bị người cò mồi). Khi BGT cho đội họp để kiểm diểm; họ sẽ đứng lên kết tội tôi, nhưng mọi người thấy tôi đòi hỏi quyền lợi cho họ nên họ nói: “tôi làm đúng”, ngược lại với BGT mong muốn.

Trong đội 1 của tôi, các anh TPK, ĐT,…làm bản kiến nghị y/c bỏ lao động ngày chủ nhật, chuyền tay anh em ký vào, gồm có 3 bản: một gởi cục V26, một gởi tổng Giám thị trại, một lưu. Sau khi gởi đi, có mấy người chạy lên trực ban trại xin rút lại chữ ký, nêu lý do bị áp lực  (mấy người như: Đội trưởng, Đ phó, anten…).

CB trực trại gọi thư ký lên (anh Đ T) và hỏi còn giấy tờ gì liên quan đến bảng KN phải giao cho trại hết.

Thư ký phát biểu: “nguyên tắc giấy tờ gởi đi phải có bản lưu- không giao nộp được”. Trực trại y/c mấy anh ấy ra khỏi buồng: họ vào lục soát, hồi lâu mới tìm được bảng lưu. Mấy anh làm bản kiến nghị tôi không biêt, khi tôi đi lao động về nghe anh em nói mới biết.

Trong đội có chú em cho biết: anh ta cũng là HSQ của TĐ42/BĐQ cũ và một anh Đại Úy CSDC. Hai anh nầy rất quan tâm đến tôi, cũng vì màu cờ sắc áo: hai ngành nầy tôi đã phục vụ. Các anh thường bàn thảo với nhau những gì đó, ít khi cho tôi biết, trong trại tù anh em luôn e ngại kẻ xấu.

Trước ngày 19-5-1996, chúng tôi được tin, thứ hai 21-5, trại sẽ đọc lệnh phạt tôi. Tối 19-5, anh em nấu nước trà, gọi tôi lên gác (Phòng giam hai tầng) uống trà; các anh hỏi: “Thứ hai trực trại gọi anh, anh có lên trước mặt các đội để CB đọc lệnh phạt không”?

Tôi trả lời: “Không”, rồi leo xuống, về chỗ ngủ. 

Khi đó có ông đội trưởng đi đến để nghe ngóng, rồi đại đội phó tới dò la tiếp. Tôi quan niệm có giữ được bí mật mới thực hiện bất ngờ, vì phản đối thì đừng làm ồn ào: địch nó đề phòng.

Trưa chủ nhật 20-5, tôi đang ăn cơm trưa; chú em Ng. T.H. lại hỏi lớn tiếng: “Thứ hai…”

Tôi la: “Đừng nói”; rồi chúng tôi tách rời nhau, mỗi người đi một ngả.

 

Bạo động nổ ra bất ngờ.

 

Thứ hai, các đội tập họp đi làm, gồm có: 6 đội tù HS (trên 250 người); tù chính trị 2 đội khoảng 80 người, ngồi hai khối riêng biệt trên sân tập họp. Tôi ngồi trong đội đang chờ gọi đi lao động, không biết anh em  trong đội có sắp đặt gì không; tôi thấy trước mặt tôi chú em Ng T. H chiến hửu TĐ42/BĐQ, sau lưng ông Đại úy CSDC, các đồng chí của tôi thì ngồi xa tôi. SQ trực trại đến trước mặt các đội tù chính trị và gọi: “Nguyễn Văn Biên, lên đây”.

Tôi đứng dậy và trả lời: 

    “Tôi không có lỗi, tôi không lên; chính BGT mới có lỗi”, tôi ngồi xuống.

CB trại gọi anh trật tự xuống bắt tôi lên; anh trật tự chưa đến tôi, chú em ngồi trước mặt tôi (Ng. T. H) đứng dậy khoát tay và nói: “Anh cũng tù, chúng tôi cũng tù, anh không có quyền bắt chúng tôi”. Anh Ng. H. Đào ngồi sau tôi, đứng dậy và dộng vào mặt anh trật tự một cú đấm khá mạnh: máu mồm anh trật tự vọt ra.

Mấy đội tù hình sự la lớn: “DZÔ!”

Anh trật tự bất ngờ quá, chưi thề: “ĐM mấy thằng tù chính trị, tao ra lấy đùi (gậy cây) đánh gãy giò tụi tù chính trị nầy”!

Trong khi đó, anh em tù chính trị dứng dậy biểu dương khí thế, ông trưởng của tôi vẫn ngồi: tất cả các con mắt của anh em tù chính trị nhìn ông; ông trưởng mới từ từ đứng dậy. Còn các đồng chí khác bình tĩnh: Vẫn ngồi mặc dầu anh em nhìn họ.

Trong khi tên trật tự chạy ra ngoài thành trại, y gặp Lại Xuân Hùng, trưởng PT/K1, ông ta bảo: “Để ông giải quyết”. Lại Xuân Hùng trưởng phân trại vào và nói: “cho các đội đi lao động”. Các đội HS: xuất trại trước, rồi đến các đội tù CT; đội 2 đi trước, mới đến đội của tôi. CB gọi: “Ng. T. H, ở nhà làm việc”. Tôi đau chân vì vậy toàn đội bảo nhau đi rất chậm: một hình thức phản đối nữa.

Khi đội đi làm về, anh em cho biết: Ng.T.H. bị đem đi cùm 7 ngày.

Hai ngày sau, CB trại goi: “Nguyễn Hồng Đào ở nhà làm việc” và đem đi cùm 7 ngày.

Đi lao động, ngày ngày tôi y/c CB quản giáo trình Ban cho đội họp kiểm điểm để tôi trình bày mọi việc.

 

Chuẩn bị đấu tố.

 

Trong thời gian ban/GT chuẩn bị họp, họ cho gọi từng đội viên lên làm việc: thiếu tá trưởng phân trại, hỏi về cá nhân ông B lao động như thế nào; nếu có cá nhân nào chê bai, bài bác (ông B) thì ông trưởng trại sẽ khuyến khích đấu tố ông B trong buổi họp, BGT sẽ chiếu cố cho đội viên đó giảm án…. CB quản giáo vẫn bảo: “Ban nói chờ”.

 

Họp đội hay đấu tố.

 

Chiều thứ sáu cùng tuần (24-5-1998), đội tôi có lệnh tập trung vào phòng họp, dưới sự chủ tọa của ông thiếu tá Lại Xuân Hùng để mổ xẻ tìm đúng sai mà tôi đã phản đối “lao động ngày chủ nhật”. Ông Hùng gọi từng người (tù viên) lên đưa ra ý kiến: qua từng người một, mọi người đều cho tôi “phản đối” là đúng. Tôi nhiều lần dong tay xin phát biểu đều không được. Hơn hai giờ, đội thảo luận, phát biểu, sôi nổi, gay cấn với BGT: chả có ai chỉ trích tôi phản đối lao động ngày chủ nhật cả, nhưng Ban vẫn chưa đưa ra kết luận.

Trong thời gian nầy, ông Đại tá tổng trại Z30A, đứng ngoài đường trước cổng trại và cho CB vũ trang đến khu cùm hai anh Ng.T.H và anh Đào, dẫn các anh nầy về đội họp. Ông đại tá bảo với hai anh nầy: “Lần nầy ông tha, không ghi hồ sơ và khuyên đừng có dại làm vậy nữa”; hai anh được đưa đến phòng họp với đội.

 

Phản ứng tiêu cực.

 

Ông nầy nhục mạ: “Chú Biên muốn làm anh hùng, không được trở thành khùng”.

Ông khác kết tội: “Nó ném lựu đạn văng mảnh người khác lãnh”.

Chiến hữu nọ phát biểu linh tinh: “Cọp Ba Đầu Rằn Đối Diện Địch Là Xung Phong”.

Tôi đả kích ông TTK câu nói trên, nếu trước đây, anh nói như vậy tôi rất hãnh diện và cám ơn anh nhiều nữa; bây giờ anh nói như vậy, anh cho tôi “Võ biền”, tôi phản đối không đi lao động ngày chủ nhật là đúng, tôi đấu tranh vì quyền lợi cho các tù viên toàn trại, chứ không phải quyền lợi cho tôi đâu…, chứ đâu có phải thấy địch đâu cũng nhào lên, lúc nầy là chết đấy!

 

Phản ứng tích cực của bạn bè kể cả tù hình sự.

 

Ở ban y-tế có ông Hiếu: trước đây là thành phần MTGPMN bị 12 tháng tù vì đòi công bằng xã hội, Dân Chủ…, làm việc ở đây, chờ vài tháng nữa là về. Được chiến hữu L. thuộc TĐ42/BĐQ trước đây, cùng phục vụ với tôi từ khi TĐ thành lập (1963) cho đến khi tôi bị thương phải rời đơn vị (1965), L là tín đồ Phật giáo HH chống đối CS; y phụ tá cho bà thượng úy trưởng ban y tế. L trình bày nội vụ mà tôi phản đối cho ông Hiếu hiểu.

 Thường các buổi tập họp của tù viên sáng thứ hai, ông H không tham dự, nhưng ngày thứ hai như nói trên, ông Hiếu ra tập họp và ngồi ở sau cùng”, ông Hiếu nói:

    “BGT phạt ông Biên: tôi đứng dậy phản đối ngay”.

Ông Ph, tù chính trị với bản án chung thân, sắp về và đang phục dịch ở nhà ban (B) Hùng, ông ta cho biết là đã cảnh cáo với B Hùng:

    “Đừng phạt ông B, ông nầy ‘vô sản’, không ai thăm nuôi, ông ta đã nắm rõ các dịch vụ làm ăn của ban như lo chạy ra coi: ao cá, vườn điều, trại gà…”

Sáng thứ ba, chúng tôi đang chuẩn bị đi lao động thì có một vị TNT, tù chính trị, nhưng khác đội, đến xin tên 4 người: tôi, Ng.T. H., Ng. Hồng Đào và anh TPK. 

Nửa tháng sau, chúng tôi được biết các đài RFI và VOA đưa tin: “CSVN đàn áp tù chính trị ở trại Z30A”.

Trong thời gian nầy, có một người tù hình sự (tên Đ) đi theo ông chánh ra trông nom ao cá để theo dõi ông H.  Anh Đ nhớ bạn bè ở Saigòn, y trốn trại về chơi. Hơn nửa tháng sau, gia đình đem Đ trở lại trinh diện trại giam: gia đình sợ Đ bị chồng thêm án. Đ bị cùm 7 ngày ở trại K3: hết hạn bị cùm; CB trại gởi Đ vào đội A tá túc một đêm. Đội này chúng tôi khi đến Z30A cũng tá túc một đêm để sáng hôm sau chuyển vào K1. Đ kể chuyện: “phản đối lao động ngày chủ nhật” ở phân trại K1, và hỏi: “Đứa nào lấy số tiền trong sổ ông Biên mà tiêu trước đây?”

Các trại viên tù HS đội A khai: “Ông đội trưởng tiêu hết 150.000 đồng, giờ ổng về rồi, còn lại 150.000 anh em chia nhau”. Sau đó anh em tù HS của đội A góp lại 150.000đ và gởi Đ đem về trại K1, gởi nhờ ông thầy, giao lại cho tôi.

Tù HS đa số là thành phần của xã hội đen như giết người đoạt của, trộm cướp, hãm hiếp, buôn lậu…, nhưng họ vẫn là con người, biết nhận ra phải trái và biết phục thiện khi công lý, công bằng trong xã hội được sáng tỏ.

 

Xả xì bớt hơi.

 

Chuyên chính vô sản là những hình thức khủng bố áp bức rất tàn bạo trong các nước CS. Chúng áp dụng rất nhuần nhuyễn các nguyên lý Lenin: khi tình hình căng, tìm cách xả xì bớt hơi (lùi một, tiến hai), phân loại đối phương, cô lập, tách rời nhân tố tích cực khỏi môi trường thích hợp. Tùy tình hình khống chế, chúng kềm kẹp, bóp lại hay nới lỏng, cô lập hay trả tự do…

Sáng thứ hai sau buổi hội thảo của đội 1 tù CT ngày thứ sáu vừa qua; các đội (CT&HS) tập họp ở sân trại: đặc biệt hôm nay có ông đại tá tổng trại, thiếu tá Lại Xuân Hùng phân trại trưởng phân trại K1. SQ trực hô nghiêm, nghỉ xong; SQ/AN tuyên dương các đội lao động trong thời gian vừa qua và đọc lại nội quy có câu: ”Nếu vì nhu cầu sản xuất cho kịp thời vụ mà trại viên phải đi lao động ngày chủ nhật thì BGT trại phải cho trại viên nghỉ bù một ngày trong tuần sau đó…”.

Sau khi đi lao động về, tôi hỏi các anh Ng T. H và Ng H Đào:

    “Tôi ném lựu đạn văng mảnh: các anh có buồn không”?

Anh đội viênTĐ42/BĐQ, “Cọp ba đầu rằn” hăng hái trả lời: 

    “Nhằm nhò gì anh ơi! Chiến thắng nào cũng có đổ máu: tụi em có đổ máu vì vài chục con muổi cắn có sao đâu”. Tôi nói: 

    “Cảm tưởng đẹp của các anh đã giúp cho tôi giải oan cái tội, ‘Ném lựu đạn văng mảnh vào người khác.”’

 

Cảm tưởng.

 

Sau mỗi lần nghe tin mình sẽ bị cùm, nhưng rồi thời gian qua đi, chờ đợi và làm viêc với SQ trực ban, SQ an ninh trại suốt từ tháng 2-1996 đến đầu tháng 7-1996 căng thật, đến vụ bạo động nữa… Tôi lại thích đấu khẩu với CB/CS, tôi lấy làm vui; tìm một vài điểm khôi hài để giảm căng thẳng. Thế rồi đến ngày CB/AN đọc lại nội quy của trại, tôi có một cảm giác lạ lùng như một vận động viên chạy đến điểm đích trước mọi người: Anh ta quỳ xuống đất: ôm mặt khóc, hay ôm thân nhân thổn thức tại điểm đến; còn tôi, tôi không cho phép làm thế. Con tim tôi rung lên bao nhiêu lần như muốn…, tôi cố nhớ lại những lần trước đây tôi được gắn huy chương, cấp bậc ngoài mặt trận, các em choàng vòng hoa chiến thắng cũng không có cảm giác rung động kéo dài như thế (Xin lỗi độc giã cho tôi biểu lộ một chút cảm xúc).

 

Vô hiệu hóa.

 

Một hôm tôi đang lao động cùng đội tù CT ở vườn điều, CB trực trại ra gọi về trại. Tôi hỏi:

    “Tôi về làm gì cán bộ”?

    “Anh qua đội già yếu”, cán bộ nói. Tôi cự nự: 

    “Tôi còn lao động được mà”!

Cán bộ trại nói tình cảm: “Anh già, đau chân, anh qua đội già dưỡng sức đi”!

Ở chung với các thầy, biết khai thác cũng học được nhiều chuyện vui buồn trong đời. Thời giờ còn nhiều quá, tôi lên thư viện trại mượn được ít sách đọc: Sử Ký Tư Mã Thiên, Mao Trạch Đông là thảm trạng của Đảng CSTQ, Ba Mươi năm quan hệ ngoại giao, Mô hình của Bắc Kinh… (mấy bộ sách nầy Hà Nội cho soạn để đả kích TQ sau chiến tranh 1979; năm 1986 mấy loại sách nầy bị thu hồi vì đã thuần phục Thiên Triều). Đầu năm 1997, Thiếu tá Lại Xuân Hùng mất chức trửơng phân trại K1: xuống giử chức chỉ huy liên trung đội vũ trang (của liên trại K1&K3).

 

Tranh luận lần cuối.

 

Cuối tháng 6-1998, trại K1 rộn lên: nào là kiểm thảo, kiểm tra, tự kiểm lung tung cho đợt “Ân xá ngày 2-9-1998”. Mỗi lần, CB giáo dục đưa cho trại viên 10 câu: hỏi, đáp, kiểm điểm… Tôi tìm đủ mọi lý do đả phá, không có khen đảng CS. Khi viết xong, tôi nạp cho CB và đi về buồng giam, công khai nói cho anh em biết quan điểm của tôi. Tôi tự nhận: một năm kém, một năm nửa nghiêng nửa ngửa, một năm không biết sao, rồi nạp. CB kêu làm đơn xin ân xá. Tôi làm và viết: theo lệnh cán bộ yêu cầu.

Sau các màn, trại bắt làm đủ mọi thủ tục trên, trước 10 ngày nữa là đến ngày 2-9-1998, có 2 tên CB gọi là “An ninh chính trị” đến trại, CB trại cho gọi từng tù viên (đã có tên cho về) lên đả thông tư tưởng. Khi tôi vào phòng giáo dục của trại, tôi thấy một tên ngồi ở bàn làm việc, trên bàn có một máy ghi âm; người thứ hai cầm máy chụp ảnh đi quanh phòng, chĩa máy vào tôi khi tôi ngồi đối thoại với tên CB đang thuyết đủ lý lẽ mà y đưa ra, và bài bác những gì mà “PTTNDT & XDDC” đã đưa ra trước đây. Tên CB nầy nói: 

    “Các anh muốn đất nước nầy loạn lên, Dân Chủ đấy, Liên Xô tan rã vì nào là Tự Do nào là Dân Chủ đấy”. Tôi nhìn y và phát biểu:

    “Liên Xô tan rã không phải vì Dân Chủ mà vì nguyên nhân khác, tôi giải thích: sau đại chiến thế giới thứ I (1914-1918), khi hòa bình trở lại, các nước Âu Châu lo xây dựng lại đất nước: tạo công ăn việc làm cho dân chúng, xây dựng lại hạ tầng cơ sở, giúp đỡ người dân bị thiệt hại vì chiến tranh…, thì nước Nga xua quân xâm chiếm các nước lân bang, thành lập Liên Bang Xô Viết (gồm 15 nước).

Cũng như thế, sau Đại Chiến Thế Giới II (1939-1945), Châu Âu bị tàn phá nặng nề, hòa bình trở lại, các nước nỗ lực: tái thiết, an dân, giúp đỡ người dân bị thương tật vì chiến tranh, tạo công ăn việc làm cho dân, xây trường học, lập nhà máy sản xuất…, thì Liên Xô ngấm ngầm xúi dục, yểm trợ các đảng CS Đông Âu cướp chính quyền đất nước họ, lập nên cái gọi là “tiền đồn” để bảo vệ cho chủ nghĩa xã hội Liên Bang Xô Viết…, tôi nhìn y và tiếp:

    “Thời đại nầy là thời đại Dân Tộc Độc Lập: người dân họ đứng lên, họ đòi độc lập cho dân tộc, đất nước của họ. Liên Bang Xô Viết tan rã là nguyên do đấy”! Nhưng ông CB nầy cố thuyết phục: 

    “Đất nước chúng ta cần ổn định chính trị để xây dựng kinh tế; đa đảng tranh nhau làm mất ổn định…”.

Tôi đã trả lời câu nầy từ các buổi thẩm vấn ở Phường, Quận, Thành phố, giờ nghe lại, tôi phải trả lời lại thôi:

    “Nhà nước đã chấp nhận ‘kinh tế thị trường’, tức chấp nhận có sự ganh đua sản xuất hàng hóa, cạnh tranh giá rẻ, sản phẩm tốt đẹp, bền để cho người tiêu dùng có quyền lựa chọn: mua sắm…Và nhà nước còn bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng: ngăn cấm hàng giả bằng cách phạt tù, tiền…, về chính trị thì cũng thế. Tôi hỏi ông CB:

    “CB có thích xem bóng đá không, khi có những trận đấu giữa các đội A,B,C,..; mỗi đội muốn thắng đối thủ của mình, thì họ phải: tuyển cầu thủ hay, mua cầu thủ tài giỏi, thuê HLV già dặn kinh nghiệm. Tập luyện cho cầu thủ thật thuần thục trên sân cỏ: chống đỡ, ghi bàn, công thủ nhịp nhàng…, mới hy vọng thắng đối phương. Trong chính trị cũng vậy thôi, đa đảng đối lập: đảng A muốn thắng các đảng khác, họ phải chuẩn bị bầu bán cán bộ tài giỏi lãnh đạo đảng, đưa ra cương lĩnh thực tế, rõ ràng ích dân, lợi nước…, các đảng khác cũng thế, để cho người dân lựa chọn. Đảng đắc cử thành lập chính phủ hay đảng tham chính, đảng cầm quyền. Đảng thất cử, đứng ngoài: làm trọng tài.

Tôi nghĩ xã hội giảm bớt:

       Tham nhũng, cửa quyền, bất công, bè nhóm, cướp bóc,…

       Đảng tham chính: sai lầm, khuyết điểm có trọng tài (Đảng đối lập) thổi còi nhắc nhở.

       Luật pháp được công minh (tư pháp độc lập), công bằng được tôn trọng.

       ……

Đó là lợi ích: đa đảng đối lập.

Còn nói cần ổn địmh chính trị để xây dựng kinh tế, tôi nghĩ muốn xây dựng kinh tế được vững bền, không cần ổn định chính trị là chính, tiên quyết cái gì khác kia mà?--ổn định luật pháp (luật lệ rõ ràng). Ví dụ, sau Đại Chiến II, các nước như Ý, Nhật Bản - nước thua trận, xã hội của họ (thập niên 50-80) một năm: nhiều khi thay đổi chính phủ một hay hai lần, trong nước một năm có trên dưới 50 cuộc biểu tình phản đối, đòi sửa sai…; tại sao các nước nầy vẫn nằm trong nhóm nước G7 (nhóm 7 nước có kỹ nghệ tân tiến nhất thế giới). Nam Hàn cũng vậy, các thập niên từ 50 đến 90 một năm: có cả 50-70 cuộc biểu tình lớn nhỏ (Theo Stanford Korea Democracy Project thì từ năm 1970-1993, đã xảy ra 5000 cuộc biểu tình chống đối và đàn áp), trong khi đó Bắc Hàn ổn định quá chứ!!! Làm ăn ra làm sao mà chính phủ (Đảng CS Bắc Hàn) cứ ngửa tay xin lương thực thế giới để nuôi dân, hay dân bỏ chạy trốn khỏi cái xã hội nầy!

Các xã hội như: Ý, Nhật Bản, Nam Hàn dần dần các cuộc biểu tình giảm nhiều, vì chính phủ của họ biết lắng nghe dân: sửa sai, tăng cường luật pháp hợp lý, lo công ăn việc làm cho người dân…, có phải xã hội đa nguyên, đa đảng không còn mâu thuẫn âm ỉ trong lòng xã hội nữa?

Ông CB chính ngắt lời tôi và nói qua chuyện khác, CB thứ hai đi quanh chụp ảnh; tôi tỉnh bơ không chú ý đến họ, hết giờ vặn vẹo, đả thông tư tưởng, CB/ANCT để tôi về buồng.

 

Vô phương cải tạo, đày đi biệt xứ.

 

Ngày 30-8-1998, BS Quế đang bị cùm ở phòng giam đặc biệt của trại K1, lúc 16:30G; BGT cho mở cùm và đưa về phòng làm việc, gặp CB/ANCT của Bộ Nội Vụ. Họ hỏi BS muốn đi ra nước ngoài không, nhà nước sẵn sàng giúp đỡ, nhưng BS Quế muốn về nhà trước đã. Sau đó, họ chở BS về tận Phường Công An, nơi mà gia đình của BS cư ngụ giao cho công an Phường lo việc quản lý. Về nhà xong, BS Quế nhất quyết không đi vì cuộc chiến đang còn dang dở!!!

Ngày 31-8-1998, CB trực vào buồng tôi lúc 9:00G, và goi tôi lấy áo quần: “đi”. Tôi hỏi: 

    “đi đâu CB.”?

    “Về”, CB nói. Tôi mỉa mai: 

    “Tôi mà cũng về CB? một năm kém, một năm xấu, một năm đi hai hàng.”. CB thúc: 

    “Đi thôi”!

 

Tôi lên VP trại, đã thấy hơn 15 tù chính trị: đang làm thủ tục lấy giấy ra trại. Rồi ông đại tá trại trưởng có vài lời trước khi chúng tôi ra xe. CA thành phố đem xe mini bus lên đón chúng tôi, và về giao lại cho CA phường, nơi địa phương mà mỗi chúng tôi cư ngụ, làm thủ tục quản lý nữa. CS cho chúng tôi về trước ngày 2-9-1998; họ cũng đề phòng khi cuộc lễ phóng thích có thể có nhà báo đến lấy tin, chúng tôi có thể phát biểu linh tinh chăng?

 

Nhận xét.

 

Xả xì hơi. Ra khỏi nhà tù lớn, vào nhà tù nhỏ, ví dụ như hoàn cảnh BS Quế…: trung ương giảm chi về ăn, ở, nhân viên lo an ninh…, mọi việc đó bây giờ địa phương lo. Tôi và ông bạn tôi đã có danh sách HO 23: có chuyến bay rồi. Thả chúng tôi ra, đưa đi biệt xứ; môi trường đâu nữa mà đấu với đá…. CS là loài Quỷ: mọi hành động của chúng đều có thủ đoạn hết.

Trước khi qua phần trình bày ưu và khuyết điểm; tác giả xin có một vài ý kiến:

Một số bạn hữu quá nhiệt tâm đã phê bình: “PTTNDT&XDDC” làm “chính trị lãng mạng”!

Cá nhân tôi xin tiếp thu sự phê bình, và chúng tôi sẽ phân tích PT đã cân nhắc đi tìm một đường lối hành động thích hợp như thế nào để kẻ thù không có cớ hủy diệt tổ chức ngay trong trứng nước…, cho đến bây giờ, tôi chưa thấy có một đường lối nào khả thi hơn “ĐL bất bạo động” để hoạt động trong lòng địch.

Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy: bạn bè phê bình, mình không nên đôi co, bài bác; gây nên tranh cãi dài dòng, tạo mâu thuẫn giữa bạn và ta. Nếu thấy mình có khuyết điểm, tự mình sửa chữa; nếu không có khuyết điểm, bạn bè sẽ hiểu. Đôi co nhau, chúng ta sẽ khó vận động nhau khi chúng ta cần ngồi lại với nhau để tranh đấu đòi Dân Chủ, Tự Do, Đa Nguyên, Đa Đảng cho Tổ Quốc Việt Nam của chúng ta.

Tổ chức chúng tôi đã hoạt động, chúng tôi rất thông cảm những khó khăn của các tổ chức bạn đang hoạt động trong nước qua nhiều mặt: nhân, tài, vật lực…; tôi đã đi vận động các chiến hữu trong nước và đã thấy, nghe như thế nầy: Một hôm, tôi đến tỉnh nọ để vận động anh em, một chiến hữu cho biết: anh có nhiều người bạn rất thân ở tỉnh bên cạnh để anh đi kêu gọi họ tham gia. Chiến hữu (CH) nọ ước tính tiền xe đò đi và về, tiền cơm, nước…Kiểm lại tài chánh trong túi không đủ tiền chi phí; chiến hữu nọ lấy con dao đi quanh vườn để xem có buồng chuối nào già hay luống rau nào thu hoạch được để bán kiếm thêm tiền đi đường. Khi tôi ra khỏi tù, một CH ở xa nghe vậy, đem xe vào mời tôi ra nhà chơi. Tôi nhận lời ngay (tôi nghĩ bạn không sợ thì tôi đừng làm họ buồn); trong bữa cơm gia đình, tôi ngỏ lời cám ơn bà chủ lo mọi công việc gia đình, còn khuyến khích anh thăm hỏi cho quà chúng tôi trong thời gian chúng tôi ở tù CS. Bà chủ nhà trả lời: “Thưa anh việc đó không có gì anh quan ngại. Em nghĩ, em có nhiều hạn chế: không làm được như Bà Trưng, Bà Triệu đứng ra gánh vác việc nước được, em phải đảm đang việc nhà để cho chồng em tham gia, phụ giúp các chú, các bác được chừng nào hay chừng nấy…”.

 

Ưu và khuyết điểm.

 

Ưu.

Năm 1992-1993 là thời kỳ: sau khi Liên Xô tan rã, CSVN đang dò dẫm, tìm chỗ dựa, cùng trong thời gian đó, chúng tôi, “PTTNDT&XDDC”, nổ lực ra mắt PT qua:

1- Bắc Mỹ, Âu Châu, Úc Châu, báo, đài phát thanh đưa tin rộng rãi: chuẩn bị dư luận.

2- Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã thành lập “Ủy ban Quốc Tế yểm trợ Việt Nam Tự Do”,  trên thế giới có nhiều vị Dân Biểu, Nghị Sĩ, Chính Khách , Luật sư tiếng tăm, … tham dự. Tiếng nói của các vị nầy được các giới chức cao cấp lắng nghe (qua Đại sứ của quốc gia họ khi họ yêu cầu…).

3- Phản đối không đi lao động ngày chủ nhật: khai thác được sơ hở luật pháp của đối phương.

4- Đa số anh em tích cực: tham gia.

5- Tin CSVN đàn áp tù chính trị: gởi ra ngoại quốc đúng lúc.

 

Khuyết. 

Năm 1992, ban lãnh đạo của” PT” (tôi chưa gia nhập PT), rất cương quyết chối từ yêu cầu ngưng hoạt động của Công An thành phố, đặc biệt tháng 4-1993 có nhiều người bị triệu tập, làm việc, quý vị vẫn giữ được lập trường mạnh. Khi tôi đấu tranh chống lại sai trái của CS ở trại giam, quý vị không quan tâm, làm cho cuộc chống đối chậm có kết quả.

 

Khuyết điểm chung của quý cụ trong trai tù chính trị.

Có ai cho họ là cựu nhân viên CIA là các cụ tìm cách làm thân ngay: cung cấp thức ăn, nghe những chuyện không có, và không muốn tin những người nầy là CB/CS gài để lấy tin anh em tù khác, báo cáo lại cho trại.

 

Được trả công.

 

Có người hay khoe: hôm nay phòng tôi ưu tiên, CB để đèn suốt đêm (9giờ đêm các phòng giam đều tắt đèn).

Khi thì khoe: CB đem giường cho tôi ngủ, khi thì CB đem quạt máy cho tôi dùng…

Ai hỏi lý do tại sao được ưu đãi thế, quý cụ tỉnh bơ bảo: “Mọi nó khiến…”! 

Nhiều người thấy quý cụ nầy phát biểu vô tư quá; họ cũng tức cười. Có một lần anh tù hình sự hỏi CB quản giáo:

    “Tại sao tôi làm việc tích cực (Anten) cho trại mà án tôi không được giảm”? CB trả lời: 

    “Trại đã cho anh thăm gặp thân nhân đến 2 giờ thay vì 15 phút, hay trại đã cho anh ở lại trưa với gia đình khi gia đình khi thăm gặp …”

 

Tiêu chuẩn thưởng khi khai báo tốt.

 

Năm 1976, khi tôi bi đưa ra trại cải tạo Nam Hà (NH/Phủ Lý), tôi và người bạn (tên TVC), chúng tôi bị giam chung ở nhà 1 (buồng 1), anh em nằm bên nhau, được 4 tuần thì CB của Bộ Nội Vụ lên, gọi anh TVC chuyển trại. Sáu tháng sau, anh TVC được chuyển về trại NH lại, chúng tôi cùng ở chung một buồng như trước.  Tôi hỏi: 

    “CB đưa anh về trại nào”? Anh TVC bảo: 

    “Về trại ‘Hỏa Lò’; chúng đem hồ sơ các tù binh CS trước đây tôi khai thác (anh TVC đã khai thác các vụ lớn như Đại tá quân Báo Lê Câu, Huỳnh Văn Trọng,…). Chúng (CB/Bộ Nội Vụ) hỏi từng chi tiết, bản khai báo của tên nầy, tại sao câu nầy anh gạch đít, hồ sơ kia anh gạch đít đến 2 lần, tại sao anh đánh dấu ? dấu !.... Mục đích: chúng cố tìm có tên tù binh CS nào đầu hàng địch không (mất lập trường, thiếu trung kiên) thì chúng đào thải. Tù binh CS, thường chính phủ (VNCH) mình nuôi ăn một người 75đ ngày; chúng hỏi tại sao Huỳnh Văn Trọng lại được tiêu chuẩn 150đ ngày. Anh TVC giải thích: tiền ăn CIA trả, CB/CS cũng không tin.

Tôi hỏi: 

    “Ở Hà Nội, chắc anh được cho ăn uống đầy đủ hơn trại Nam Hà”? TVC trả lời: 

    “Đâu có, vẫn tiêu chuẩn 13kg, bửa ăn hơn chén cơm và ít rau muống luộc”, anh tiếp:

    “Có một hôm, 6:30G sáng, CB đến mở cửa phòng, gọi tôi đi, dẫn đến căn tin, bảo ngồi vào bàn ăn, rồi CB đến giao phiếu cho nhân viên cửa hàng; một lúc sau, nhân viên bưng ra một tô phở thịt trâu”. Tôi hỏi: 

    “Cơm trưa, cơm chiều thì sao”? Anh TVC cho biết: 

    “Cơm trưa, chiều; CB cũng dẫn xuống căn tin, mỗi bửa ăn được 3 món: một tô canh nhỏ, một dĩa cá kho, một dĩa đồ xào, ba chén cơm- tiêu chuẩn 15kg đầu người tháng. Tôi hỏi: 

    “Các ngày hôm sau thì sao”? Anh ấy trả lời: 

    “Trở lại tiêu chuẩn cũ-13kg/tháng”; bữa ăn là một chén cơm hay ngô hay khoai…. 

Anh giải thích có 5 tiêu chuẩn thưởng khi khai báo tốt:

- Tiêu chuẩn 1: khai báo tốt  - ăn ngày 3 bữa (15kg/tháng), như trên.

- Tiểu chuẩn 2: khai báo khá tốt - ngày 3 bữa, bữa ăn có thêm thịt và cơm (18kg/tháng)

- Tiêu chuẩn 3: khai báo tốt hơn - có một chai bia trong bữa ăn (21kg/thg)

- Tiêu chuẩn 4: khai báo quá tốt - trong mỗi bữa ăn có một chai bia,150g thịt/ngày (24kg/thg), cấp bộ trưởng.

- Tiêu chuẩn 5: khai báo quá quá tốt - mỗi bữa ăn có bia, 300gr thit bò/ngày (27kg/thg), cấp thủ tướng.

Ở miền Bắc đói, CS lấy miếng ăn dụ khị, Miền Nam không đói, CS thay vì thưởng ăn thì cho nằm giường hay quạt điện …, nhưng một đêm thôi, ngày mà đương sự khai báo cho CA/CS để hại bạn bè nhiều…

 

Quốc sách, chính sách, kế sách…

 

Những nguyên lý Lênin là sách gối đầu của CS; bất cứ người nào chúng cũng đánh giá, phân loại: địch, bạn, trung dung. Địch thì chỉ có diệt, không diệt được thì theo dõi, cô lập…Bạn thì CS giao công tác. Trung dung; CB thường tiếp xúc để dụ dỗ, lôi kéo…. Mấy ông bạn cùng về với tôi, CB mời đi uống cafê mỗi sáng chủ nhật; kẻ bị mời phải trả tiền. Một ông bạn khác được gạ gẫm ra thăm lăng Bác (ở trại cải tạo, chúng tôi đi thăm lăng Bác hàng ngày), nếu dò tư tưởng đối phương có cảm tình với CS: thuyết phục thì cho làm anten, không được thì làm cho họ trung lập; đưa ra vài lời khuyên, ví dụ anh già rồi nên lo bảo vệ sức khẻo là chính, lo cho gia đình trước hết….Những người vô phương thuyết phục thì cô lập, tách khỏi phạm trù hoạt đông, gây sức ép, tống xuất….

 

Cảm nghĩ (thay kết luận).

 

Đất nước và dân tộc Việt Nam đang cần sự giúp sức của quý vị (ai đó) đem lại Tư Do, Dân Chủ, Nhân quyền, Đa Nguyên, Đa Đảng…Ai đó xin phải quyết tâm, và đặt Dân Tộc lên trên hết: nếu quý vị cứ nghĩ: đi với Mỹ, dựa vào Tàu, theo Nga…, chúng ta sẽ mất tự chủ: cuộc nội chiến trong lòng Dân Tộc chưa dứt, chưa thống nhất được lòng người để xây dựng đất nước và chống ngoại xâm.

Anh em chúng tôi, khi phát động “PTTNDT&XDDC” trong nước có 9 người vào tù ra khám, công việc còn dang dở mà 4 chiến hữu đã ra người thiên cổ:


-Dân Biểu Nguyễn Ngọc Tân
-Giáo Sư Đồng Tuy
-Thi Sĩ Bùi Kim Đỉnh
-Chiến Hữu Trần Quang Liêm.

             

Xin quý thầy và các chiến hữu phù hộ cho Dân Tộc Việt Nam: sớm thoát ách Cộng Sản.

Nguyễn Văn Biên

Bắc California 30-5-2009.

 

Có thể tham khảo:

  - Cáo trang số 07/KSDT-AN ngày 20-2-1995

  - Án số 1469/HSPT ngày 20-10-1995