Có Một Thời


Nguyễn Cửu Nhồng

 

Anh chị Tôn Thất Chung, cuối năm rồi có dịp qua Houston để tìm nhớ kỹ niệm khung trời Phượng Vỹ xưa cũ. Nhất là tìm lại hơi ấm tình nghĩa thầy trò cái thuở “tiên học lể, hậu học văn”. Tình nghĩa thời đó, khác hẳn thời “học tập tốt, lao động tốt” theo Bác Hồ dạy sau nầy. Dù tuổi đời chồng chất, chúng tôi vẫn đã nhớ và kể nhau nghe bao thân ái thuở “mắt sáng môi tươi” đó. Bạn T.T.Chung rất được các bạn thương mến vì anh sống rất chí tình với mọi người. Nghe anh bệnh, các bạn từ khắp nơi đã kéo đến thăm. Không riêng các bạn trong quân ngũ mà bạn Trương Thuận Hiếu đã tường trình. Các bạn học từ thời Pellerin xưa, như Lê Đình Loan ở Houston cũng đã cùng một số bạn học cũ các nơi khác, tìm đến tận San Diego động viên, thăm viếng.

Có dịp tâm sự với nhau, chúng tôi lan man từ Pellerin qua Quốc Học, rồi nhập ngũ. Thuở đó tình nghĩa giữa Thầy Cô và môn sinh thật đẹp. Thầy Cô được xã hội tôn trọng và đãi ngộ thích đáng nên có đủ uy quyền và tư cách để chuyên tâm rèn luyện trí đức cho học trò của mình. Nên đã chinh phục được lòng tôn kính của mọi người, bên ngoài cũng như trong học đường.

Tháng 4/75 ập đến như một tai ương. Chung kể cho chúng tôi nghe về ngày 30 tháng 4. Một trái pháo rơi vào nơi cư ngụ gia đình anh chị, đã cướp đi sinh mạng bà cụ, và cháu gái anh chị bị thương nặng. Cách Mạng đã tiếp quản Bệnh Viện, bệnh nhân trong viện còn bị nhẫn tâm đuổi ra, thì với con của một ngụy quân, ai thèm quan tâm đến. Hồi tưởng hoàn cảnh nghiệt ngã lúc đó, niềm đau thương như hằn lên nét mặt anh.

Đến nay, 34 năm trôi qua, mọi buồn đau đã nguôi ngoai lắng xuống. Đến lúc chúng ta cần ngồi lại để tìm hiểu, vì sao đến bây giờ, lòng người vẫn ly tán. Đất nước có một dân tộc thông minh, hiếu học, vẫn chìm đắm trong lạc hậu, nhân dân đa số vẫn nghèo khổ.

Thời gian tù tội không biết gì xã hội bên ngoài. Nhưng khi về đến nhà, tôi cảm nhận, từ chuyện học hành đến tình nghĩa thầy trò, có gì đó thật lạ. Nếu không tai nghe mắt thấy, khó lòng tin nỗi.

 

Tôi có đứa em bạn dì ở Đà Lạt, làm nghề giáo, than vãn: -Chán lắm anh, thầy cô bây giờ không còn được tôn trọng như xưa. Chúng quan niệm đi dạy là: “Chuột chạy cùng sào mới vào Sư Phạm”. Đồng lương vừa ít, sự tôn kính của học sinh thì dần dần biến chất. Thầy Cô phải nhai đi nhai lại “Giáo Án” đã được “xét duyệt” để hợp chính trị. Như Bài “Cây Kim”, có mấy câu:

Áo dày áo mỏng tùy thời.

Áo dài áo ngắn tùy người mà may.

Công trình xiết kể lắm thay.

Áo nào cũng bởi tay nầy mà ra.

 

Tay nầy, em nói là “Cây Kim” được nhân cách hóa. Bị phê tư tưởng tiểu tư sản, “ Tay nầy” là tay của người “Công nhân”. Đã làm ra mọi công trình cho xã hội.

Không chỉ ba môn Văn, Sử và Chính trị tha hồ láo thiên láo địa. Ngay môn Toán: Du kích Xã ta bắn rơi ba chiếc máy bay địch, mỗi chiếc chở 20 tên Ngụy. Hỏi như vậy xã ta đã bắn hạ bao nhiêu trên Ngụy?.

Dối người, chúng còn dối cả mình, vỗ ngực tự xưng “Đỉnh cao trí tuệ”, “Hà Nội thủ đô phẩm giá con người”. Mục đích nhồi nhét vào đầu các em những anh hùng kiểu Lê văn Tám, mà theo họ, sau mấy năm Chống Mỹ, đã sản sinh nhiều hơn cả bốn ngàn năm Văn Hiến.

Chữ viết cũng cải tiến, trông cứ như cọng mỳ ăn liền. Về thi cử, “học tài, thi … lý lịch”, vị nào có công với Cách Mạng càng to, con cái có điểm cọng thêm vào điểm thi càng lớn. Lại thêm chỉ thị đặc biệt. Đứa cháu gọi tôi cậu ruột dạy ở Đại Học Y Khoa Tây Nguyên kể tôi nghe, là ban Giám Hiệu được chỉ thị, làm sao thì làm, dạy cho em X, một trò thuộc dân thiểu số, năm đó phải tốt nghiệp Y Khoa .  “Trồng người” như vậy, sẽ thu hoạch “người” giống chi đây? Và sinh mạng bệnh nhân giao phó cho vị bác sĩ đó, sẽ ra sao?

Sau 75, vợ tôi đưa năm con trở lại Đà lạt. Để các con có thể tiếp tục cắp sách đến Trường, vợ tôi nhất định không đi Kinh Tế Mới. Bà mang 5 đứa con vào Suối Tía Sòng Sơn, để gần Trường học. Mẹ con dựng chòi làm rẫy dưới thung lũng, sau Dinh 3 của Cựu Hoàng Bão Đại. Sáng sáng, chúng trèo ngược lên một sườn núi, ra Viện Pasteur, để đến Trường Mê Linh, gần cầu Bá Hộ Chúc, hoặc Trường Thăng Long, cạnh nhà thờ “Con Gà” để học.

Tôi được nhận làm xã viên Hợp Tác Xã Rau, những hôm gánh nước tưới rau dưới suối, nghe thằng út ngồi học thuộc lòng, nó ê a đọc thật lớn :

 

Ông Lê Nin người nước Nga,

Mà sao em thấy như là Việt Nam .

Cũng vầng trán rộng thênh thang,

Cũng chòm râu bạc mênh mang biển trời.

 

Nghe con học mà ruột cứ quặn thắc, không phải do mấy “soa” nước trên vai đè nặng, mà do thương con đang phải học những điều dối trá của một Chủ Nghĩa ngoại lai. Xem Lê Nin là người Việt Nam !!

Mỗi lần bước vào tiệm sách khu Hòa Bình, tôi thấy tượng Lê Nin đứng lù lù, tay đút túi, ngạo nghễ nhìn khách ra vào mà căm gan.

Có một bài thơ dân gian nghe thật thấm, có lẻ phản bác bài học trên:

 

Ông Lê Nin người nước Nga,

Mà sao ông đứng vườn hoa nước mình,

Hai tay ông lại khuỳnh khuỳnh,

Một bầy kẻ cướp đứng rình sau lưng.

 

Trong tập san “Lá thư Phượng Vỹ 2008”. Bài viết tựa đề “Có một thời..” của Cô Thanh Tâm, nói về chuyện học hành trong Xã Hội Chủ Nghĩa thật hay, đáng cho chúng ta suy gẫm. Tôi xin đan cử một số chuyện cô kể, để các bạn thấy thêm cái nhìn của Nhà Giáo về thời “Học tập tốt, Lao động tốt” đó.

Năm 79, tên họ đứa con trai cô, bổng dưng xuất hiện trong “lá huyết thư”. Tình nguyện bỏ học, để lên đường “chống Trung Quốc xâm lược”. Thư đưa lên Khoa Trưởng, Khoa Trưởng trình lên Chủ Tịch UBND Thành phố. Ông Chủ Tịch K. chấp nhận và ấn định ngày làm lể xuất quân với quân trang đầy đủ. Nhưng tất cả chỉ là một trò hề, một kịch bản để quây phim tuyên truyền. Những tên “cánh thế” được ông Chủ Tịch, Cụ Kiệt, khuyên nên ở lại tiếp tục học vì Đảng cần kiến thức của họ. Dù những tên nầy hăng hái nhất, nhảy đông đổng một hai đòi đi. Còn con cô, dù hôm đó trốn, cũng bị đuổi học và có lệnh trình diện nhập ngũ. May nhờ “mái tóc của Múi”, Múi là một học trò của cô, trò đã sõa tóc che kín hai tai trong các giờ Chính trị, Sử và Văn. Do vậy thầy trò biết bụng dạ nhau, nhờ Múi, trong dịp họ cho người Hoa ra đi bán chính thức, đã tiết lộ đầu mối “vượt biên”, con trai cô đã vượt thoát để sau nầy bảo lãnh cha mẹ qua.

 

Có nhiều chuyện nhí nhỏm cười ra nước mắt, như là chuyện Tếu như thật, mà chuyện thật như tếu, tôi trích nguyên văn như sau:

Tếu mà thật: Giờ Sử, Ông Thanh ta vào hỏi: -Các trò có biết ai đánh cắp nỏ thần không?

Trò A: Dạ con không biết.

Trò B: Dạ con không biết.

Thầy giáo bèn nói với ông Thanh Tra:

Thưa ông Thanh Tra, bây giờ các em đang sợ quá, xin ông về phòng, rồi tôi sẽ hỏi và thưa lại với ông Thanh Tra sau.

Một lát sau thầy giáo đến: -Dạ thưa ông Thanh Tra, tôi đã hỏi kỹ hết các em, không ai đánh cắp nỏ thần cả. Và tôi cũng không.

Chuyện tiếu, nhưng thật thấm thía cho môn Sử.

Thật rất tếu :

Nguyễn Xuân Lâm, là học trò, đồng thời là em họ của tôi (Lời cô Thanh Tâm kể).

Năm 73, nó học lớp 10 ngoài Bắc, phải “tình nguyện” đi bộ đội. Rồi đi đường Trường Sơn vào Nam . Năm 75 tan hàng thì nó ở trong Nam . Có chính sách cho học sinh lớp 10 ngoài Bắc được coi ngang học sinh lớp 12 trong Nam . Nó được vào học lớp 12. Nhưng học sao nỗi, cho nên trở về Bắc. Hè năm sau nó vào thăm Sài Gòn. Tôi hỏi nó học hành ra sao, có thi vào Đại Học chưa?. Nó thưa: “Em học không nỗi, nên đã đi dạy”. Nhìn thấy vẻ quái lạ của tôi, nó giải thích: “Dạ, thi Tốt nghiệp Phổ thông thì khó, chứ dạy Tiểu học thì dễ hơn. Vã lại, em là bộ đội phục viên, nên có được nâng đỡ”. Hè năm sau nó lại vào, tôi lại hỏi, lại được nghe điều lý thú hơn nữa:”Em dạy không nỗi, nên đã đi làm Hiệu Phó. Tai tôi điếc chăng, hay mình bị ảo thanh? –“Hở?” – “Dạ vì trong bộ đội, em đã được huấn luyện nhiều về chính trị. Làm “hiệu phó chính trị” thì dễ hơn dạy chuyên môn”.

Mấy năm sau nó lại vào Sài gòn, lần nầy tôi chụp hỏi trước, tưởng là tiếu lâm chơi : “Bây giờ em đã lên tới cái gì rồi?” Ai ngờ thế mà thiệt. Nó đã lên làm Hiệu Trưởng!! Nó giải thích: “Làm hiệu phó, dù là hiệu phó chính trị, cũng phải có chút trình độ, để còn đối phó với giáo viên và học sinh, chứ làm Hiệu Trưởng chỉ cần giỏi về mặt Đảng, và giao thiệp bên ngoài cũng toàn như mình.(!!)

 

Buồn cười thật, nhưng nghĩ lại, buồn thấm thía quá, phải không các bạn? Chuyện tưởng như sảy ra tại xứ sở bán khai nào.

Tôi có một em trai, BS Bệnh viện Đà Nẳng, năm 75 kẹt lại. Lúc tôi ra tù, có ghé thăm. Nó giới thiệu ông cựu Giám Đốc đầu tiên từ rừng ra vào tiếp thu Bệnh Viện. Các bạn có biết, lúc tôi đến gặp, ông đang làm chi không? Ông ngồi giữ xe trước cổng Bệnh Viện. Tôi ngạc nhiên, thì em tôi giải thích: Làm Giám Đốc không sơ múi được gì, vì từ viết tên thuốc đến định bệnh, ổng đều mù tịt. Ông bèn chạy chân giữ xe. Nhờ vậy mà nay ổng đã khá lên.

Mỗi ca phẩu thuật như cắt bỏ ruột dư, vá một bao tử loét …, mỗ xong, em tôi chỉ được bồi dưỡng 7 đồng, cọng thêm tô phở trong “căng tin” Bệnh Viện. Trong khi vá cái lốp xe đạp lũng, nó phải móc ví trả mười mấy đồng. Ruột xe giá trị hơn cả ruột con người.

Cũng chuyện học, thằng trưởng Cửu Long của tôi thi vào Đại Học Nông Nghiệp ở Biên Hòa. Xem phiếu điểm, cháu đủ để vào, nhưng chờ hoài không thấy tuyển sinh gọi. Đi hỏi, thì họ bão đến hỏi thẳng phòng Tổ Chức Trường. Tôi về Sài Gòn nhờ em trai tôi chở đi Biên Hòa, đứa em mà một lần qua San Diego, có ghé thăm Tôn Thất Chung.

Trước khi vào phòng Tổ Chức, tôi mua nửa bao thuốc “có cán” để làm thủ tục. Sau khi rít vài hơi thuốc, anh cán bộ lấy ra cuốn sổ, lật tìm một hồi, quay lại hỏi:

-Xin lỗi, ông có đi Học Tập Cải Tạo không?.

-Tôi đi cải tạo về, và hiện đang trong thời gian quãn chế.

Anh ta lại lục hồ sơ, xong lôi ra một tờ giấy, chỉ: - Mời ông xem, Trường chúng tôi có chỉ thị không nhận con em thuộc các đối tượng sau đây. Xin ông cảm phiền.

Nước mắt tôi tự nhiên ứa ra, ngực như bị ai đấm trúng. Nếu có tội thì tôi đã đền xong. Con tôi có tội gì ?

 

Trở lại “Có một thời…” của cô Thanh Tâm, chuyện “Chỉ vì không có Prozac”.

Cô Tâm kể về một học sinh tên Phan Hoàng Quí ở Thạnh Mỹ Tây, học lớp 10C2 do cô làm chủ nhiệm, thấy em không chú ý bài vở, chỉ lảm nhảm “VC về rồi, đời không đáng sống”. Cô đã thông báo cho phụ huynh về bệnh trầm uất của em. Nhưng không đâu tìm ra thuốc Prozac. Kết quả là một hôm, em đã tự tử chết.

Thật buồn. Nhưng nếu so với chuyện chị Đặng Thiên Thuần, giáo sư Trần Hưng Đạo Đà lạt, vì đói, cô đã ngất sỉu ngay trên bục giãng. Học sinh tưởng trúng gió, tìm cách đưa cô về nhà ở Chi Lăng. Sáng hôm sau người qua đường nghe tiếng con nít khóc, vào xem, thấy cô đã lạnh giá. Họ tìm cái gì ăn để giúp đứa nhỏ con cô, khóc gần ngất và đói lã bên cạnh xác mẹ. Nhưng họ lục tìm khắp nhà, không có lấy bất cứ thứ gì có thể ăn được. Còn buồn đến sót sa.

Đó là những chuyện do người trong cuộc thuật lại. Sau 75, mọi người hay nhắc đến hai chữ “Đổi đời”. Không hiểu đổi từ xấu ra tốt hay ngược lại ?. Nhưng có một điều chắc, là trật tự xã hội, trật tự đạo lý, đã bị một chủ thuyết vô thần đảo lộn và làm ung hoại. Người đứng lên hô hào: Tiêu diệt giai cấp bóc lột, tìm công bằng xã hội. Phút chốc, biến thành giai cấp thống trị, tha hồ vơ vét.

Thầy cô đôi lúc phải mang bánh kẹo trái cây vào lớp bán cho học sinh để kiếm thêm tí tiền. Học trò thì được khuyến khích lập công để tiến bộ, bằng cách báo cáo những tư tưởng Thầy Cô mà chúng cho là “chống đối cách mạng”, Thầy Cô thì phải dạy sao cho hợp chủ trương “láo thiên láo địa” của Đảng, để yên thân.

Các nơi khác tôi không rõ, nhưng tại Đà Lạt, các chị K.16, chị Thuần tôi đã kể, các chị khác như chị Cao Yết, phải vào rừng làm rẫy. Chị Lê Vũ Thiết là cô Kim Anh, lang thang ngoài chợ Đà Lạt, tiếp tay với dân buôn chuyến, chào hàng bán các thứ buôn được từ Sài Gòn, Nha Trang, hay từ các buôn làng đem lén về. Dù họ dạy giỏi, được học trò tôn kính. Nhưng đã phạm tội tầy đình là làm vợ Sĩ Quan Ngụy. Đảng thì xử dụng con người như công cụ, dùng chức quyền để thưởng phạt. Võ Nguyên Giáp làm Bộ Trưởng Bộ Kiểm Tra Dân Số mà dân hồi đó gọi Bộ Hạn Chế Sinh Đẻ. Nhà thơ Tố Hữu, người ca tụng Lê Nin, khóc lóc thảm thiết khi Stalin chết. Thì làm Bộ Trưởng Kinh Tế.

Ông Hiển, Giám Đốc Air Việt Nam, trả lời phỏng vấn của BBC, đã chê phóng viên nầy vì xa tổ quốc lâu, nên dốt tiếng Việt, cần về học thêm kiến thức để hành nghề. Và mới đây, Trịnh Ngọc Thành, phát ngôn viên của Air Việt Nam, trả lời phỏng vấn trường hợp phạm pháp của phi công Đặng Xuân Hợp. Ông Thành bảo nếu bị Tòa Án Nhật kết tội, cá nhân ông Hợp phải gánh chịu mọi trách nhiệm, Air VN không thể trách nhiệm cho hết cả 500 phi công của mình được.

 

Thế đó, họ quen thói trịch thượng với dân. Quen thói cả vú lấp miệng em với người dân trong nước. Nên quên luôn ngôn ngữ lịch sự tối thiểu trong giao tế. Chuyện đuổi một quan chức ngoại giao nước ngoài khỏi cái ghế đã có vé mua, dành ghế đó cho một vị trong bộ Chính Trị đi. Đủ thấy cái oai phong của những bậc đại công thần, kẻ tự phong cho mình quyền lãnh đạo đất nước, lẫm liệt ra sao!

Tuổi anh em mình, dù sống nơi đâu trên đất khách quê người, cũng có cùng chung tâm trạng là thương nhớ quê hương. Ta nghe bạn Mai Trung Ngọc bên Tây than thở:

Tuổi già thêm phiền muộn,

Sầu lữ thứ khôn nguôi.

Người xưa nay đâu cả,

Mây bay mãi phương trời !

 

Trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư có câu chuyện một người đi thăm thú nhiều nơi, khi quay về, có người đến hỏi: -Theo ông, nơi nào đẹp nhất.? Ông ta trả lời: -Không nơi nào đẹp bằng quê hương.

Chúng ta ai mà chẵng thương nhớ quê hương, nhất là nơi đã cho chúng ta cả một thời đầy ắp kỹ niệm. Nhưng tại sao chúng ta phải chua sót bỏ nước ra đi? Tại sao, vì đâu?

Tâm sự buồn thảm của bạn Chung. Chuyện kể “Có một thời…” của cô Thanh Tâm, đã trả lời câu hỏi đó.

Kính chúc các bạn mọi sự an lành trong dịp tháng tư về, để có một ngày xum họp trên quê hương cho thỏa niềm thương nhớ.

Nguyễn Cửu Nhồng
Tháng 4-2009