Tuổi Thơ


Nguyễn Cửu Nhồng

(Kính tặng tất cả các Bà Ngoại)

 

Đã bảy chục bó thêm mấy que lẻ, còn lẩm cẩm ngồi viết về tuổi thơ. Đúng là thầy chạy! Nhưng biết răng chừ! Có những chuyện không muốn nhớ, mà chẳng thể nào quên. Thôi thì, rủi hay may không biết, lỡ làm chứng nhân giai đoạn đau thương của đất nước, tôi muốn cho con cháu mình, nhất là những ai sinh sau 75, biết những gì đã xảy ra trong cuộc chiến vừa qua. Tại sao hơn hai triệu người phải bỏ xứ ra đi? Vậy nếu hưởn, mời quí bạn dạo thăm khu vườn ký ức của tôi.

Làm sao tôi quên được khoảng thời gian hạnh phúc, trong vòng tay thương yêu của người cha thân ái và người mẹ tần tảo. Tôi còn may mắn có bà Ngoại nhân từ như một bà tiên, đã gieo vào tuổi thơ của tôi thật nhiều tình cảm nhân ái. Thân sinh bà là Cử nhân Lê Đình Mại, nguyên tri huyện của  Tuy Hòa thuộc tỉnh Phú Yên. Khi Kinh Thành thất thủ, cố tôi bị sát hại trong cơn loạn lạc.

Bà Ngoại rất thích đọc sách, không biết bà kiếm đâu ra các tác phẩm như Trê Cóc, Thạch Sanh chém Chằng. Đôi khi chúng tôi kéo đến ngồi quanh nghe bà đọc Tam Quốc hay Hán Sở Tranh Hùng…Tâm hồn tôi được nuôi lớn bằng một kho tàng ca dao tục ngữ, những chuyện xưa tích cũ ấm áp tình người.

Tôi được chăm lo đầy đủ dù trong nhà có đến chín anh chị em. Lớn lên trong giai đoạn đất nước nhiễu nhương, tại một vùng quê ven Huế, ký ức tuổi thơ chứa đầy những ngày tản cư, những lần xuống hầm trốn đạn pháo hoặc núp máy bay Pháp. Tôi thích nhất là các buổi văn nghệ và thuộc lòng các bài hát như “Con trâu mà đi kháng chiến” kể chuyện một con trâu đã húc đuổi cả một đoàn Lê Dương đi lùng. Hoặc hoạt cảnh “Hòn đá to”, mô tả người đi đường bị một tảng đá lăn ra cản lối. Sau có nhiều người cùng đến hợp sức đẩy tảng đá để đi qua. Để ca ngợi tinh thần đoàn kết.

Họ tổ chức các buổi văn nghệ đó trong sân đình, hoặc tại một thửa ruộng vừa thu hoạch. Họ xưng là Mặt Trận Kháng Chiến. Mọi người gọi họ là Việt Minh. Thời gian nầy tôi chưa nghe đến Cọng Sản hay Chủ Nghĩa nầy nọ. Và suy nghĩ thật đơn thuần: “Yêu Nước là Yêu Quốc Gia Dân Tộc”. Và toàn dân phải đứng lên để đánh đuổi thực dân dành độc lập. Tôi nhớ mãi người anh rể đầu của tôi, anh Hưng. Anh chỉ là một nông dân chơn chất, đã ngây thơ nghe lời tuyên truyền. Cầm dáo, ôm rơm và ớt bột lên Morin, cạnh cầu Trường Tiền, đốt khói xông cho Tây chui ra để giết. Không biết anh có đâm được thằng Tây nào không, nhưng người ta đã khiêng xác anh bị bắn chết về làng, gây căm hờn cho mọi người lúc đó.

Hết Trung Học, vừa lúc chấm dứt trận Điện Biên Phủ, hiệp định Genève ra đời và đất nước chia hai. Quân Pháp khởi sự rút khỏi cả hai miền. Ngô Đình Diệm được Bảo Đại mời về làm Thủ Tướng. Sau cuộc trưng cầu dân ý, ông trở thành Tổng Thống và thành lập Nền Đệ Nhất Cọng Hòa tại miền Nam. Ông từ chối tổ chức Hiệp Thương. Vì miền Nam theo thể chế Tự Do. Miền Bắc lúc nầy đã lộ chân tướng Đệ Tam Quốc Tế. Một bên Tự Do, một bên độc tài Đảng Trị. Hiệp thương theo phổ thông đầu phiếu trong tình trạng đó. Đất nước sẽ rơi vào tay Cọng Sản.

Tại Miền Nam, một Quân Trường đầy đủ tiện nghi vừa được xây dựng trên đồi 1515 thuộc Cao Nguyên Đà Lạt, với mục đích huấn luyện sĩ quan hiện dịch để kiện toàn quân đội. Tôi tình nguyện nhập ngũ, lúc nầy tôi đã đủ nhận thức để biết phải làm gì cho quê hương mình.

Hôm nay ngồi ghi lại những dòng nầy, tôi tự hỏi không biết đã có ai, kể cả các “đỉnh cao trí tuệ”. Nhìn thấy cái “Xã Hội Chủ Nghĩa” ra sao, và xây dựng được cái gì tốt đẹp chưa? Nói về công trạng:  -Nếu bảo nhờ Chủ Nghĩa Xã Hội mới thống nhất đất nước! Không lẽ Đông Đức và Tây Đức cũng cần chủ nghĩa đó để thống nhất. - Hỏi Bắc Triều Tiên với Nam Hàn, ai nên giải phóng ai? -Nếu bảo có Đảng CS mới đánh đuổi thực dân, không lẽ Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân, ngay cả Ấn Độ, các nước châu Úc, châu Phi, cũng nhờ Đảng CS để đánh đuổi thực dân và dành độc lập? –Nói về tội trạng, trong Cải Cách Ruộng Đất, Đảng kích thích hận thù giai cấp, đã giết 700 ngàn mạng người tại miền Bắc. Vụ Nhân Văn Giai Phẩm đã bóp chết bao nhiêu nhân tài của đất nước. Trong Nam , bao quân cán chính đã hi sinh, đã tù tội chỉ vì muốn bão vệ cuộc sống tự do. Hơn 6 ngàn người bị tàn sát, bị giết tức tưởi trong Mậu Thân tại Huế. Và sau 75, kẻ chiến thắng đã áp đặt chế độ độc tài toàn trị trên khắp cả nước để chia chác quyền lợi kèm chiến lợi phẩm vừa chiếm đoạt. Họ đã gieo rắc thù hận và gây mầm mống chia rẽ trầm trọng nhất cho dân tộc ta từ xưa đến nay. – Nghị Quyết 1481 năm 2006 của Nghị Viện Châu Âu đã kết cho chế độ CS tội “chống nhân loại”. Và “Ông Stalin ơi”, chính Tổng Thống Nga hiện nay là Dimity Medvedev, đã tiết lộ những tội diệt chủng tàn khốc của ông cho toàn thế giới biết đó.

Thôi thì, chuyện công hay tội của Cọng Sản, hãy để lịch sử phê phán, tôi xin trở lại chuyện chúng mình. Trong khi Miền Nam vừa cố ngăn chặn làn sóng đỏ, vừa loay hoay công việc bình định phát triển. Thì bộ đội miền Bắc với quyết tâm “sinh Bắc, tử Nam”, đã mở ra các chiến dịch đẫm máu như Mậu Thân 68, đồng loạt tấn công vào khắp các Tỉnh Thành miền Nam. Trận Bình Long, rồi Mùa Hè đỏ lửa năm 72, ồ ạt xua quân qua Bến Hải, tiến chiếm Đồng Hà, Quảng Trị và uy hiếp Huế.

Một bên chỉ tự vệ lo chống đỡ, phe kia cương quyết xâm lăng, cuộc diện càng ngày càng nguy ngập. Và rồi, tình hình biến chuyển không thuận lợi cho Miền Nam , trong lúc Đồng Minh bỏ cuộc để theo đuổi mục tiêu khác. Khi Mỹ rút quân và cắt viện trợ, thì khối Cọng Sản vẫn dồn hết nỗ lực đưa người và chiến cụ ào ạt đánh phá. Đầu năm 1975, mặt trận Tây Nguyên vỡ, dân chúng hốt hoảng, rùng rùng chạy theo đoàn quân trên đường rút lui. Quân đội không thể tách bỏ thân nhân và gia đình. Họ đã bị bó chân bó tay, làm mồi ngon mặc cho kẻ thù tha hồ đánh phá.

Trường Võ Bị được lệnh di chuyển về Sài Gòn. Để rãnh tay theo đơn vị, tôi cho vợ con về trước Cam Ranh để chờ về Sài Gòn bằng tàu thủy. Cuộc di tản của Trường VB hoàn tất, đơn vị trực thuộc cũng như SVSQ 4 Khóa đều về đến Long Thành bình an, Trường tổ chức mãn khóa cho Khóa 28 và Khóa 29. Rủi cho các sĩ quan tân khoa, vừa về trình diện đơn vị. Xe tăng Cọng quân đã vào Sài Gòn và ủi sập cổng dinh Độc Lập. Hai khóa 30 và 31, tuy chưa ra Trường, vẫn giữ vững đội ngũ cho đến phút chót. Hiện nay, tại Houston, có CSVSQ Phạm Văn Phúc thuộc Khóa 31, vẫn hăng say sinh hoạt trong hội Võ Bị Houston.

Sáng ngày 1 tháng 5/75, tôi tìm cách quay lại Cam Ranh. Lúc tìm gặp các con và người vợ đang bụng mang dạ chửa, cũng là lúc tôi từ giã họ, để đi vào cái gọi là “Trại Cải Tạo”. Mãi hơn 6 năm sau, khi ra khỏi tù, tôi mới có dịp thấy lại năm con, vì chúng đã không thể theo mẹ băng rừng lội suối, thường phải ngủ đêm giữa rừng, mỗi lần đi thăm nuôi tôi.

Vợ con tôi bị chỉ định về lại nguyên quán là Đà Lạt, nên thằng út vừa khẳm tháng, mẹ con lại phải dắt díu nhau về đó. Không nhà không cửa, đứa lớn mười tuổi, đứa nhỏ còn đỏ hỏn trên tay, vợ tôi phải chui vào rẫy Sòng Sơn cất chòi để ở, xem như đi Kinh Tế Mới. Nếu không có bà Ngoại của các con tôi, vì thương các cháu, đã chịu đựng mọi vất vả và thiếu thốn để vào rừng sống với chúng. Chắc các con tôi không bao giờ còn được cắp sách đến Trường.

Hồi tưởng lại năm 1964, tôi từ Alưới xin phép về Huế một tuần để cưới vợ, “cưới nhau xong là đi”. Trong thời gian lội triền miên tại các vùng Ashau, Alưới, Tà bạt, Ba Lòng, Khe Sanh, Lao Bảo…Nếu không có bà Ngoại của tôi lúc đó ở cùng để che chở và an ủi, chắc cô dâu mới tò te đã khóc hết nước mắt. Không biết có phải bà Ngoại thương cháu hơn bà Nội không, mà tục ngữ ta có câu: “Cháu bà Nội, tội bà Ngoại”, bà Nội có cháu, nhưng bao nhiêu khổ cực đều dồn cho bà Ngoại. Ước gì có một ngày tri ơn “Bà Ngoại”, như “Ngày Cha”, “ngày Mẹ”.

Trở lại chuyện học các con tôi. Chế độ mới áp đặt nền giáo dục mang từ miền Bắc vào, không còn “tiên học lễ, hậu học văn”. Thay vào đó là 5 điều Bác Hồ dạy. Bỏ luôn môn công dân giáo dục. Các con tôi nhờ bà Ngoại chăm sóc, tuổi thơ được  sưởi ấm, chúng đã giữ được nền giáo dục có nhân tính, biết thương yêu cha mẹ, kính trọng thầy cô. Trong lúc nền giáo dục mới đào tạo ra một lớp người giả dối, giả dối từ ngoài giao tiếp đến trong tình cảm. Họ phá tan, đập nát những gì họ cho là tàn dư đế quốc. Họ hô hào “lối sống văn minh theo nếp văn hóa mới”, không vọng ngoại. Thế nhưng hãy nghe họ la khóc: “…Ông Stalin ơi! Hỡi ơi ông mất, Đất Trời có không? Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một, thương Ông thương mười” . Chẳng trách sau nầy, thanh thiếu niên Hà Nội khóc ca sĩ Michael Jackson, họ bày bàn thờ trưng hình ca sĩ nầy lên, rồi quây lại khóc than thảm thiết.

Đi tù về, suốt hai năm quản chế, tôi phải chịu đựng những hạch sách của đủ loại công an: khóm, phường, khu vực và thành phố. Họ có quyền gọi tôi bất cứ lúc nào. Đêm đi dân phòng, ngày ra đồn Công An bửa củi, vét cống rãnh, hay ra chợ gánh hàng hóa, rau cải họ tịch thu của dân buôn bán trái phép về đồn. Có khi họ dẫn tôi vào rừng để gánh hay vác về các loại than củi, gỗ ván của dân cưa và đốt lậu.

Nhưng đau lòng nhất, vẫn là khi thấy các con phải học những điều dối trá.

Về văn, hãy nghe thằng út tôi ngồi ngân nga:

Ông Lê Nin người nước Nga.

Mà em cứ tưởng như là Việt Nam.

Cũng vầng trán rộng thênh thang,

Cũng chòm râu bạc mênh mang biển trời.

Ông Lê Nin trông y chang bác Hồ? Chắc vì:

Từ ấy, trong tôi bừng nắng hạ.

Mặt trời chân lý chiếu qua tim. (Tố Hữu)

Bị mặt trời mùa hạ chiếu xuyên qua, đui là cái chắc.

Về Toán, rặt các bài tính đã bắn rơi bao nhiêu máy bay, diệt được bao nhiêu tên ngụy. Về sử, những nhân vật như Nguyễn Văn Trỗi hay Lê Văn Tám lừng lững đi vào lòng dân tộc. Đúng như dân Huế hay nói:

Láo thiên láo địa. Láo từ ngoài Sịa láo vô.

(Sịa là quê của bạn Đoàn Đình Thuyên chúng mình.)

Đà lạt lúc nầy có 8 bạn K.16 là HTDiên, VĐDiệu, Cao Yết, NT Thiên, Phạm Thái, LVThiết, PX Thất và tôi. Ngoại trừ Thất, các bạn khác đều qua Mỹ lớp HO1 hay HO2. Riêng tôi chờ đến  HO7 mới được gọi về phỏng vấn. Phái đoàn Mỹ liếc qua hồ sơ, không hỏi gì cả, vui vẻ tuyên bố chấp nhận cho gia đình tôi được nhập cư Hoa Kỳ, và chuyển qua phía VN để xếp chuyến bay.

Không trở ngại phía Mỹ, thế nhưng không hiểu sao phe ta cứ im lìm, đến lượt HO9 được gọi, tôi vẫn chưa được xếp chuyến bay. Về Sở Ngoại Vụ xin gặp người phụ trách. Tôi nhớ ông ta tên Tú, sau khi lục tìm, có thể có một gia đình nào đó bỏ chuyến bay. Ông quay hỏi tôi, nếu 6 ngày nữa kể cả ngày hôm đó, có chuyến bay, tôi có chuẩn bị kịp không? Dĩ nhiên tôi trả lời kịp. Thế là tôi ở lại Sài gòn chạy lo thủ tục, bảo con trai thuê một chuyến xe để đưa gia đình tức tốc về Sài gòn. Chúng tôi đi Mỹ chẵng khác chi chạy giặc.

Lần khám sức khỏe cuối cùng trước khi lên máy bay, vợ tôi do cảm động, mắt hơi đỏ. Họ lấy cớ đó giữ bà lại, bảo chữa cho lành rồi đi sau. Thế là phải cho phong bì kẹp vào hồ sơ. Mắt bả lập tức hết đỏ.

Nhận được hồ sơ sau khi không còn trở ngại của y tế. Tôi hộc tốc chạy đến Phòng Xuất Cảnh nộp 7 cuốn Hộ Chiếu để xin đóng dấu. Lúc nhận lại, tôi hớn hở ra về, yên chí hoàn tất mọi chuyện, chỉ còn chuẩn bị hôm sau lên đường.

Lúc làm thủ tục ở phi trường, đến gần giờ ra máy bay, họ cho biết trong 7 hộ chiếu, có hộ chiếu cháu Nguyễn cửu Quỳnh Dao chưa có dấu xuất cảnh. Lại chạy kiếm một phong bì kẹp trong Hộ Chiếu cháu vào nộp lại, họ giải quyết tức thời bằng cách đóng dấu ngay tại Phi Trường.

Khi ra máy bay, tôi đi thẳng không dám quay đầu lui, giá lúc đó có ai gọi tên, tôi sẽ vờ điếc. Ngồi trong máy bay, tôi vẫn còn hồi hộp. Xưa Thúy Kiều, từ ngày lọt vào tay Tú Bà đến ngày tái hồi Kim Trọng, là 15 năm. Nay từ 1975 đến 1990, cũng 15 năm rồi. Lẽ nào. Tôi lẩm nhẩm khấn: “Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều, phù hộ cho máy bay đừng trục trặc máy móc để khỏi quay lui”.  Tôi chỉ thở phào nhẹ nhỏm, khi máy bay đáp xuống Thái Lan.

Được bạn hữu tiếp đón ra sao khi đến Houston, tôi đã tường thuật trong bài Tù tội và mất mát #3, tức Thi sĩ họ Võ trên xứ Thơ, trong website của K.16.

Hẹn các bạn trong một bài viết khác, ít lẩm cẩm hơn. Thân mến.   

Nguyễn Cửu Nhồng
Tháng 9-2010