Thi sĩ họ Võ trên Xứ Thơ


Nguyễn Cửu Nhồng

Ở đây cơm áo Xứ Thơ,
Còn nghe đói rách từng tờ lịch rơi.

        Đó là hai câu tôi còn nhớ được, trong bài thơ bạn Nguyễn Duy Sự làm và lén chuyền tôi đọc, trong giờ Toán của Thầy Nguyễn Ngộ năm nào.
        Xứ Thơ Đà Lạt
, là nơi các con tôi sinh thành. Đặc biệt trong dịp bạn Võ Đăng Diệu lên học Tham Mưu, đến thăm tôi gặp lúc cháu Cửu Long chào đời, đã phụ tôi tìm chỗ chôn “nhau” cho cháu.
Trước 1975, Đà Lạt đúng là xứ Thơ. Nhưng sau nầy, những ai chọn Đà Lạt làm “chốn nương thân”. Thì Đà Lạt lại thành nơi an trí.   

        Hôm nay ngồi đây, xa Đà Lạt cả nửa vòng trái đất, ký ức những ngày an trí đó, tưởng đã chìm vào quên lãng, nhưng đột nhiên, từ một ngóc ngách nào đó của bộ nhớ, chợt hiện ra rõ mồn một.  Đúng là “chuyện không muốn nhớ, mà chẳng thể nào quên”. 

        Chúng tôi đã “tha hương” trước khi ra khỏi nước. Các bạn không tin ư? Trong xã hội bình thường, thì chuyện tôi sắp kể, quả khó tưởng. Nhưng đây lại là những chuyện thật trăm phần trăm. Đã xảy ra rất chi là bình thường ở một đất nước tự hào vừa giải phóng con người khỏi mấy tầng kềm kẹp, áp bức !

        Mở đầu, tôi xin sơ lược hoàn cảnh tôi, có lẽ là hoàn cảnh chung của các bạn hồi đó trở về chịu “quản chế” ở Đà lạt. 

Tại Cam-Ranh, sau khi tôi vào tù một tháng thì thằng út chào đời. Nấn ná chờ đứa bé “khẳm tháng”, mẹ con mới bồng bế nhau trở lại Đà Lạt. Nhà ở cũ đã bị chiếm dụng nên bả bổng nhiên thành kẻ vô gia cư. Công an không thể cấp hộ khẩu. Vợ tôi thành “cư dân bất hợp pháp”, các con tôi làm dân nhập lậu ngay trên chốn chúng sinh ra và lớn lên.
Hợp hay bất hợp pháp cũng chẳng nghĩa lý gì. Nhưng kẹt vì cái “side effects”, tức “biến chứng” phụ, -phụ mà lại chính-, của “Không Hộ Khẩu” là: “-không phiếu mua lương thực, -con trẻ không thể tới trường, -công an có quyền đến xúc lên xe, mời đi Kinh Tế Mới bất cứ lúc nào”.

        Tương lai mù mịt, đen ngòm. May có người bà con bày kế, chỉ cho một khu đất hoang vắng trong Sòng Sơn, mẹ con lếch thếch dắt díu nhau vào đó. Tưởng tượng cảnh thằng lớn lên 10, đứa bé còn đỏ hỏn. Mẹ con nai lưng ban sườn đồi xuống thành một nền nhà, cất đại một cái chòi làm chốn dung thân, để được “đăng ký” vào Hợp Tác Xã Nông Nghiệp.
        “Ơn Đ
ng”! Hợp Tác Xã giao cho một mảnh vườn đã bỏ hoang làm đất canh tác. Đương nhiên, bả được thăng cấp nông dân bần cố.
        Hơn sáu năm sau, lúc tôi được “tha về”. Không thể nhập "hộ khẩu" vì đã “mất quyền công dân”. Tôi chỉ được quyền lao động để sản xuất của cải (con người đúng là vốn quí). Mãi sau hai năm “diện quản chế”, công an Phường bắt bà xã tôi làm một lá đơn để đọc trước dân, có câu:  “Tôi xin nhận chồng tôi về để tiếp tục giáo dục theo chính sách khoan hồng của Đảng”. Lúc đó tên tôi mới được ghi chú thêm vào “Hộ Khẩu” do bả đứng Chủ Hộ, cạnh mấy chữ “đã được cải tạo”. Thời gian nầy, ai nói về chuyện đi Mỹ, tôi sẽ cho là chuyện Đường Minh Hoàng du Nguyệt Điện, chỉ như một mơ ước viển vông.
Người gần gũi với tôi thời gian nầy, có lẽ Nhà Thơ họ Võ.
Diệu nhiều lần vào “làm công” cho tôi, cũng gánh nước, đẩy xe đất, dẫy cỏ. Nhà Thơ thường vừa nĩa đất (làm nông ở Đà Lạt không có con trâu đi trước, cái cày theo sau truyền thống, mà dùng nĩa. Chân nhấn tay nạy, để sới và đập đất cho tưa ra), vừa ngâm oang oang bài Hồ Trường làm tôi lõm bõm nhớ: 

“Rót về Đông…
Nước biển Đông cuồng loạn.  
Rót về Tây,  
Mưa từng trận chứa chan…”

        Đôi lúc trên vai kẽo kẹt đôi “xoa” nước tưới, Diệu vẫn ráng lên giọng, ngâm nga bài “Cáo Trạng” tức “Con đường Bác đi”. 

         Tình trạng tiền công như sau, Nhà Nước “ứng trước” tiền giống, phân, thuốc sâu. Mình chỉ còng lưng cày sới, dẫy cỏ, tưới nước, săn sóc, chăm bón. Phẻ re. Sản phẩm thu hoạch chỉ được bán cho Nhà Nước. “Cán bộ thu mua” ấn định phẩm chất để trả tiền. Chênh lệch giữa tiền Nhà Nước ứng trước, và tiền cán bộ “định giá” trả cho sản phẩm, là “giá trị thặng dư”. Nông dân toàn quyền bỏ túi phần “giá trị thặng dư” nầy. Vậy là không có ai bóc lột ai. Chỉ tùy tình cảm, chia chác ít nhiều cho người đến làm phụ như Diệu. 

        Nhưng than ôi! Tiền Nhà Nước ứng trước, thường lại lớn hơn giá trị sản lượng do cán bộ thu mua “định giá” trả cho. Nên “giá trị thặng dư”, thành thặng thiếu. Mùa nào nông dân cũng lổ chỏng gọng, lấy đâu mà chia chác? Ngay cả cơm độn, -đúng ra là bắp độn, hay sắn độn cơm-, đôi lúc cũng không có đủ để mời nhau.
Loòng thoòng mãi. Giờ xin vào phần chính chuyện kể: Cuộc đời và sự nghiệp một nhà thơ.  

        Nhà thơ tù về, sướng hơn tôi vì còn có được một căn nhà ở khu Cô Giang để tá túc. Ban đầu, nhờ chị Diệu làm gian thương. Nên Diệu có vẻ “phởn” hơn một số anh em. Có lẽ chị Diệu còn “cò con” nên chưa lọt mắt xanh bọn áo vàng. 

        Một lần chị Diệu trúng mánh, mang cà phê về Sài Gòn lọt, mang hàng “quốc cấm” dưới đó lên an toàn. Gặp dịp ba lãng tử Thái, Yết và tôi đến, chị mua một lạng thịt bò về, xào lên, xoa tay trịnh trọng bảo: “Mỗi anh mần một múi đũa để cho người có chút chất thịt”. Thịt Quê Hương sao mà ngọt bùi thắm thía thế. 

Nhưng người “bạn dân”, tức các “chiến sĩ công an”, đâu dễ thua trí. Quả nhiên, ít lâu sau, Diệu vào rẫy tìm tôi, nhăn nhó mượn ít gạo về nấu cháo cho đứa nhỏ. Con bé khóc quá mà nhà hết sữa, cũng chẳng còn gạo. Chị Diệu vừa bị bắt giữ. May cán bộ trạm “kiểm soát Kinh Tế” thông cảm, chỉ giữ hàng, còn tha người. Chị về nhà với hai tay trắng, đói mệt và không còn một xu dính túi. 

    Hết vốn liếng, Diệu ra hồ Xuân Hương câu trộm cá. Cá trong hồ Xuân Hương như rủ nhau vượt biên hết hay sao ấy, nhiều đêm nó im lìm như tảng đá, ngồi suông ngắm chị Hằng.   

Ngồi đây vời vợi khung trời tím,  
Nát cả hồn thơ, héo cả lòng.  
Tăm dạng em đâu? Biền biệt mãi,  
Bao ngày chờ đợi, bấy đêm mong.  

Khi nao trở lại phương trời cũ,  
Em thấy đầu non tảng đá già.  
Rêu cỏ phủ đầy, trơ dưới nguyệt,  
Vì mòn mỏi đợi bóng Hằng Nga.
 

       Lã Vọng câu cá chờ thời, còn Diệu câu cá chờ thơ. Một lần Diệu bị Công An tịch thu sạch cả chài lẫn chì, cần câu cũng bị tước, nhưng hớn hở vào khoe với tôi: -Tao vừa làm được bài thơ “chị Hằng tắm … truồng”. À nầy! Mầy còn gì ăn không? 

        Thấy nhờ cậy Hà Bá không được, Diệu tìm đến với Sơn Lâm. Diệu một mình vào rừng, ẩn trú trong khu vực Hố Tôm. Nó tìm những thân cây thông thẳng, hạ xuống, dứt khúc, xong dùng cây cứng đẽo thành những cái nỏ dẹp, vừa đóng vừa nêm, xẻ dọc cây thông ra thành từng lát. Đói đi mò tôm dưới suối ăn sống. Ôi!  Một cảnh nên thơ mà cả thiên đường lẫn địa ngục dễ gì tìm thấy!! 

Diệu còn mẹ già, một hôm tôi xuống thăm, nghe Diệu vào rừng làm gỗ, tôi hỏi:- “Bác ơi, mắt mũi Diệu như vậy, vào rừng lỡ có chuyện gì làm sao?”
        -“Cái thằng nó cứng đầu lắm. Hồi nhỏ tôi đặt nó là thằng “Lẫy”, vì có gì bất như ý là nó “làm lẫy”, có lúc nằm vạ nữa. Mọi người cứ gọi nó là Lẫy, riết quen, cho đến khi đi học mới không gọi tên đó nữa. Nay lớn đầu rồi, mà cũng không bỏ cái tánh. Khổ quá, vợ chồng cằn nhằn than thở chút. Thế là nó đùng đùng bỏ đi. Mà nghĩ cũng tội, mắt mũi vậy, đi làm thuê gánh mướn chẳng ai kêu. Tôi thì già, không phụ giúp gì được. Vợ nó nay lại bận thêm con dại, vả công an kinh tế chúng đã để ý rồi, không thể lén lút buôn chuyến như xưa được.  Ông bà ta đã dạy mà: 

“Con ơi ghi nhớ lời nầy.  
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.”

        Với người bình thường, tai mắt còn nguyên, một mình trong rừng vắng, còn khó xoay xở. Thế mà Diệu, mắt còn chưa tới nửa con, vẫn hì hục làm được một cái chòi bằng ván. Theo lời bà cụ kể, có lần Diệu bán ván được ít tiền, mang về. Diệu đen và ốm nhom, nhưng đưa tiền xong, nhất định trở lại Hố Tôm. 

        Trong tận cùng nổi khổ, Diệu đã được Trời Phật thương. Trời Phật nầy ở tận Tây Phương, tuốt đâu từ bên Mỹ bên Canada, đã gởi về cho Diệu một thùng đồ. Khi Diệu nhận được thùng “Phước Sương” do Hồ Khắc Đàm gởi về, Diệu bèn bán căn lều trong rừng. 

        Thời gian nầy, một chỉ vàng đã là một gia tài lớn đối với những người dân đã được “Cách Mạng” hóa phép đổi đời. Diệu nhận một lần 7 chỉ vàng. (Diệu kề tai nói nhỏ dù đang đứng giữa rẫy vắng).  Nhờ tiền nầy, chị Diệu chổi dậy, thỉnh thoảng lén làm một cú “buôn chuyến” để kiếm thuốc “có cán” cho Diệu hành nghề “Depot”. Diệu tậu ngay một chiếc xe đạp, một bộ bàn ghế xếp, một thùng gỗ. Tất cả “pay off”. Bàn ghế cột đèo sau ba-ga. Cái thùng gổ, trong đó là thuốc lá cùng hàng lặt vặt, diêm, hộp quẹt, đá lửa. Thì đính trước ghi-đông. Chừng con đường “sự nghiệp” trước mặt đang thênh thang rộng mở. 

Ban đầu, Diệu nghênh ngang ra chợ Đà Lạt, tìm chỗ đông người, như Bờ Hồ hoặc khu Hòa Bình bày hàng bán. Nhưng qua vài tín hiệu, cho biết các vùng đó thuộc “giao dịch hợp đồng”. Có ai đi xe trái chiều, bị công an giữ xe. Người đó đến một trạm bán thuốc lá lẻ sát bên, mua bao thuốc, trả tiền xong, “quên” lấy thuốc mà quay lại lấy xe. Anh công an sẽ cũng “quên” mất chuyện giam xe, người mua thuốc an nhiên lấy xe đi.
Không thể “hợp tác hai bên cùng có lợi” theo kiểu đó, nên viễn cảnh thùng thuốc lậu thuế có ngày ra đi không trở lại.  Diệu đành cuốn gói vào ngã ba Phan Châu Trinh hành nghề.
        Có hôm một cán bộ trong “Học Viện Quân Sự” (Trường Mẹ trước đây) đến mua thuốc. Diệu bốc đồng xua tay bảo “hết thuốc”. Anh ta trừng mắt nhìn Diệu một hồi rồi bỏ đi. Hôm sau, để an toàn sản nghiệp, Diệu đành bỏ ngã ba Phan Chu Trinh, vào định đô ở ngã ba đường đi Trại Mát, nhưng ở đây ế quá, đành di tản lần nữa vào tuốt hồ Than Thở. Chị Diệu lúc nầy cũng có một gánh hàng nhỏ, quảy theo bán cho khách “tham quan”. 

        Tuy nhiên, đời không phải chỉ toàn những nỗi buồn không tên. Một lần Diệu vào rẫy, gặp lúc bà xã tôi dẫn mấy cháu về Cam Ranh nhận “tái tiếp tế”. Thấy tôi có nuôi con vịt xiêm, nó khuyên làm vườn đừng nên nuôi loại nầy, nó phá lắm, Diệu dặn: “Tao đi kiếm xị rượu, mầy bắt nó, cắt tiết cho tao”. Tôi là thằng dễ bị bạn “xúi dại”, bèn nghe lời. Tối đó hai thằng no nê, phè phởn gác chân nhau nằm ngủ.
        Tôi ở giữa rẫy vắng, nên nuôi khá nhiều gà “đi bộ”. Đồi cơ man nào là ổ mối. Chiều xách cái cuốc, thấy gốc dẻ nào có mối đùn, đào lên, cả bầy gà ào lại bươi tiếp. Những chú mối mủm mỉm trắng hồng được bầy gà hân hoan chào đón. Dĩ nhiên chúng không phải giống “gà đi xe”, cũng chẵng phải thuộc loại “gà đi bộ” bình thường. Mà là gà “leo núi”, chúng suốt ngày leo đồi bươi kiếm sâu bọ, hạt cây, đọt cỏ. Chiều được chiêu đãi một máng chuối cây xắt lát băm nhỏ, trộn ít cám, xong lên chuồng. “Diet” và thể dục còn kỹ hơn “người mẫu”. Chẵng trách Nguyễn Thanh Thiên bão thịt gà bà Nhồng ngon nhất thế giới. Không biết nó nói thật hay dụ khị: “Moa là thằng sành ăn, có dịp thưởng thức món gà tại những tiệm ăn lừng danh Thế Giới. Nhưng chưa bao giờ nhai những miếng thịt gà vừa ngon vừa thơm như gà nhà bà Nhồng”!!! 

        Sẵn có suối, tôi vét bùn và ngăn thành hồ nuôi cá. Giống cá trắm cỏ, chỉ cần cắt gánh cỏ về, ném xuống là chúng ào đến, tranh kéo từng nắm cỏ, chạy nhai rào rào. Giống cá nầy do chị vợ của Bá Bành Tổ, nhà ở trên khu Mã Thánh, cung cấp. Tôi vỗ ngực nhận đại là bạn thân của Bá, nên khi đếm cá giao cho, thế nào chị cũng có “bonus” mấy con. Trong các bầy cá tôi nuôi, có một con lớn rất nhanh, tôi gọi con “thủ khoa”. Thấy nó chóng lớn, nên tôi để dành. Một hôm Diên báo cho biết Bùi Quyền sẽ lên Đà Lạt, tôi nhớ ngay con “thủ khoa”. Con ‘thủ khoa” chóng lớn thật, dễ tới 6 hay 7 kylô. Quyền đã hẹn ghé tôi, nhưng trở ngại sao đó không đến, cả bọn bèn thanh toán nồi cháo, đánh nhanh rút lẹ. 

        Ngày Diệu có chuyến bay đi Mỹ, đã tổ chức một buổi “văn nghệ tiễn đưa”, tôi được mời đến dự và nghe cháu Trà Mi lên ngâm bài “Hồ Trường”.  Làm sao quên giọng ngâm ngây thơ của cháu:

Công chưa thành, danh chng đạt,  
Tuổi trẻ bấy lâu? Mà đầu bạc.  

        Diệu qua đến Waco, một thị trấn nhỏ nằm giữa Dallas và Houston, được bạn hữu ở địa phương tiếp đón và tặng cho chiếc xe cũ. Diệu bèn chất vợ con lên chiếc xe đó, hướng về miền Viễn Tây để đến bờ Thái Bình Dương. Cuối cùng, dừng chân tại “Thủ đô Chính Trị” của người Việt Tị Nạn - San José.
Diệu đã đến đúng nơi. Và bài kể về Diệu, đáng lẽ ra, chấm dứt nơi dây. Thế nhưng tôi xin phép các bạn, được tâm sự “huỵch toẹt” với nó một phát. 

        Diệu ơi, có lần mầy thổ lộ : “Giờ tao chán quá. Bạn bè dần xa cả. Con người tao giờ thành vô dụng nên họ tránh cũng phải. Tình đời là vậy. Họ chọn người danh vọng đến thăm, chứ tao còn gì mà qua lại.”

        Mầy cho tao góp ý.

Mầy không lái xe, Trần Trung Lương nhận làm tài xế cho mầy. Ngồi buồn không bạn, đã có Nguyễn văn Biên lủi thủi leo xe Bus đến góp chuyện. Chu Trí Lệ lo chu cấp các dịch vụ cần thiết, Trương Đình Khá lúc nào cũng xủng xoẻng bạc cắc theo mầy vào các quán cà phê Starbucks ngồi yên lặng nghe mầy nói. Đời nầy kiếm một người bạn không phải dễ, thế mà quanh mầy không biết bao người thương mến. Một lần thấy Bùi Quyền, Nguyễn văn Tư với mầy chuyền nhau cây “Bazoka”, rít thuốc lào sòng sọc, thả khói mù trời. Tuy không hút được, nhưng tao vẫn thấy “đời bỗng dưng vui”.
        Mầy có căn phòng riêng thật tuyệt vời, chứa đủ “Cầm, Kỳ, Thi, Họa”, mầy thổi sáo, chơi măng cầm (mandoline), thổi harmonica. Thứ nào cũng điêu luyện.
        Nhìn lên vách, ảnh cháu Trà Mi hiên ngang trong quân phục Hải Quân, lênh đênh trên chiến hạm đang tham dự chiến trận Vùng Vịnh. Cháu nhớ nhà, sắm cell phone gởi cho Ba để làm phương tiện liên lạc, mỗi lần nhớ gọi về tâm sự. 

        Ngoài ra, còn hai cha con ông Bush, cả vợ chồng Clinton. Chừng như họ đã nợ mầy từ kiếp nào, nên kiếp nầy cúc cung lo trả. Nào medicare, medicaid, medical, nào gởi check định kỳ để mầy có tiền cà phê thuốc lá. Còn trả tiền mướn nhà, tiền để thuê người chăm sóc cho nữa. 

        Diên Hồ qua đây, hùng hục đi làm, nay về hưu, tính tới tính lui, không đủ tiền mua nào part A, part B, rồi C, nay lại thêm D để phụ vào cho cái Medicare bọt bèo. Đành “tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng sách”. 

        Mầy qua Mỹ, một bước lên quan, không phải qua tám tuần sơ khởi như tụi tao. Tao đứng bán hàng cho cửa tiệm “convenient store”. Mầy biết các tiệm “convenience” chỉ có một người đứng bán. Nửa đêm, một thằng Mỹ đen thui đến quầy, dáng hung dữ, nhìn tao rồi tuông một tràng vào mặt tao như bắn đại liên. Tao chẵng biết nó nói gì, chỉ nhận được ba chữ cuối vì nó nhấn từng tiếng :”Yes or no”. 

        Có hiểu nó nói cái mẹ gì mà yes hay no? Tao đáp hàng hai: “No OK”. Tức vừa No mà vừa OK. Thằng thông minh thật. Ngay tao chẵng hiểu ý tao muốn nói gì, thế mà nó hiểu nên bỏ đi. Dù sao cũng thoát nạn.
        Không ngờ ít hôm sau, dịp lể Halloween. Thằng đen đó, tao đoán thôi, vì nó mang mặt nạ “Thần Chết”, tay cầm lưỡi hái. Nó đem hàng xách đến quầy, đang định tính tiền thì nó quay cán lưỡi hái, đánh vào đầu tao liên tiếp mấy gậy. Tao gục xuống, nó còn định bồi thêm, may có bà khách hét lên như còi báo động. Nó mới chạy đi. Còn tao được khách trong quán bấm 911 gọi Ambulance đến chở vào bệnh viện. 

        Nếu mầy đã đọc “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên, và nhất là “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn. Tác giả là người sống và lớn lên trong Xã Hội Chủ Nghĩa. Sẽ thấy cái cay đắng tụi mình đang chịu chẳng thấm vào đâu. Vì may mắn chúng ta vẫn còn những tình bạn khắng khít. Một điều hiếm hoi trong chế độ lấy nghi kỵ cùng sợ hãi để cai trị và kiểm soát nhau. 

Đang ngồi sờ đầu tóc bị y tá cạo nham nhở, để may vá không biết mấy đường trên đó. Ngẫm sự thế mà chán đời, bỗng thầy Cai Lê Minh Ngọc ở đâu mò đến. Vẫn nụ cười nửa miệng với cái nhếch môi đáng ghét cố hữu, còn lững thững xách theo chai rượu đòi cưa mừng chiến thắng. Thầy chẳng an ủi, không quan hoài cái đầu lởm chởm bông băng, mà còn hỏi lung tung. Tại sao để cho Mỹ đen nó đánh, nó đánh vì lý do nào?
        Tao làm sao biết, vì nó đánh xong bỏ chạy, đâu có hưởn đứng lại cho mình hỏi. Nhưng mầy biết không, Ngọc về rồi, thái độ xem mọi chuyện trên đời như trò đùa đó, làm tao nhớ đến mầy, kẻ có một con mắt đã gởi lại quê hương. Nhớ đến những người bạn, thân thể nay không còn nguyên vẹn.
        Nhớ vẻ an nhiên tự tại bên ngoài của Ngọc, nhưng đang dấu chịu bao vết thương âm ỉ bên trong, vì vài mảnh vụn đạn pháo, còn vật vờ đâu đó trong cơ thể, chờ cơ hội bộc phát.
        Vậy mà tao, mới bị vài gậy đã bày đặt chán thế sự. Nhảm quá phải không? 

        Mầy thấy đó, sau tháng tư đen, đứa nào gặp cơ hội, đi trước, tụi mình kẹt lại, đi sau. Nhưng nghĩ lại, thằng nào cũng khổ như nhau. Qua trước phải đối phó với bơ vơ lạc lõng ban đầu. Thằng đi sau dù sao cũng có kẻ đi trước chỉ bày, giúp đỡ.
        Nếu mầy được nghe chuyện lao khổ của các bạn đi trước, nhất là số bị đưa vào các nông trại hoang sơ, hay các công trường hoặc cơ xưởng đóng hộp. Cuộc sống như tù, mù mịt mà chẳng biết bỏ đi đâu. Còn mầy cũng như vợ chồng Bá Bành Tổ, thằng từ Đông qua Tây, từ Đại Tây Dương qua Thái Bình Dương. Còn đứa từ vùng nắng ấm cực Nam, lên tuốt vùng Minesota cực Bắc giá buốt. Tụi mầy thích đâu là xách xe chạy,  vì ở đâu cũng sẵn có bạn bè chờ đón “chỉ lối đưa đường”.

        Ngày gia đình tao xuống máy bay, đông đủ cả đàn anh lẫn đàn em, đứng chờ ở sân bay. Niên trưởng Ngọc Giao khóa 8, gắn cho tao huy hiệu Võ Bị. Hiển Trần Hội Trưởng VB trao tao phong bì. Diên Hồ biếu tao chiếc xe… Nhưng cái quan trọng hơn cả, cái đã giúp gia đình tao yên tâm đón nhận cuộc sống mới. Đã giúp năm đứa con tao tìm lại niềm tin yêu.  Đó là tình người, là ánh mắt nồng ấm, nét mặt rạng rỡ thương yêu của những người bạn cùng chung lý tưởng.  
Trong thoáng chốc, các con tao xóa sạch trong tâm trí những tuyên truyền bịp bợm mà 15 năm qua chúng đọc trong sách vở Học Đường của chế độ Cọng Sản.  
        Thì ra, các chú các bác, những kẻ Nhà Nước Cọng Sản qui kết là chẳng có tình người, lại thương yêu, gắn bó nhau như thế nầy đây.
 

        Để thay đoạn kết:
        Cuối năm nay (2007), chúng ta sẽ hội tụ về San José để tìm kỹ niệm ngày “lỡ dại” rủ nhau chui vào cổng Lữ Gia. Mục đích để tìm lại kỷ niệm cái thuở “tà tà dân chính” của những chàng trai mắt sáng môi tươi. Chúng ta đã ước định không mời những vị “chức sắc”, mà chỉ chào đón các bậc “thâm tình”, cùng những bạn bè thân quen, hoặc những thế hệ cháu con tiếp nối.
        Từ anh “Cai” đến thầy “Quản”, từ chị “Đội Thường Vụ” đến bà “Chỉ Huy Trưởng Hậu Cứ”, sẽ cầm tay đồng ca bài “Vó câu muôn dặm” hoặc “Đường Trường Xa” gì đó do bạn Trần Trung Lương đánh nhịp. Chúng ta đến không với mục đích chưng bày thành đạt hay chiếu rọi lại những hào quang quá khứ. Vì vậy hi vọng không phải có các thủ tục thưa kính rườm rà.
        Những giận hờn nếu có, xin khép lại. Những “nhận xét về nhau”mà  tôi vừa trình bày trong chuyện nhà Thơ họ Võ, xin gạt bỏ qua bên hoặc gác lại hết sau lưng. 
Mong lắm thay.   

Nguyễn Cửu Nhồng