Niên Trưởng Nguyễn xuân Phúc
 và TIỂU ÐOÀN 2 TRÂU ÐIÊN

MX Phạm văn Tiền  

Sư Ðoàn TQLC có rất nhiều tiểu đoàn tác chiến, nhưng ai cũng ao ước mình là một chiến sĩ trong tiểu đoàn Trâu Ðiên. Tiểu đoàn Trâu Ðiên cũng đã được chỉ huy qua rất nhiều vị Tiểu đoàn trưởng xuất sắc để trở thành một đơn vị ưu tú nhất của QLVNCH. Niên trưởng Nguyễn xuân Phúc là một trong những vị chỉ huy xuất sắc đó, ông đã tốt nghiệp “Á Khoa” khóa 16 trường Võ Bị Quốc Gia VN. Ngay trong thời gian thụ huấn ông đã là “Tiểu đoàn trưởng” trong hệ thống tự chỉ huy, được khóa đàn em nể phục với biệt danh “Robert Lửa”. Ai đã từng một thời là người lính mũ xanh phục vụ binh chủng TQLC thì không thể nào không biết hoặc không nghe về người hùng Nguyễn xuân Phúc. Niên trưởng là một cấp chỉ huy đạo đức, thông minh, tài ba tại chiến trường và cũng là chiến hữu thân thiết nhất đối với tất cả mọi thuộc cấp, ông đã dành trọn cuộc đời cho binh nghiệp, đã chọn và sống hết mình cho quân đội và cho tổ quốc VN. Từ lâu đã có quá nhiều bài viết nói về ông. Những bài viết của nhà văn Phan nhật Nam, của niên trưởng mũ xanh Nguyễn văn Phán, của Trần văn Loan và đặc biệt nhất là bài viết mới đây của nhà văn nữ Ngọc Thủy được đăng tải trên các Webside TQLC. Chị Ngọc Thủy đã trải hết tấm lòng biết ơn của người em gái hậu phương về các anh chiến sĩ tiền tuyến, trước đây đối với người hùng Lê hằng Minh và gần đây nhất về chiến sĩ Lý Tống. Riêng bài viết về niên trưởng Nguyễn xuân Phúc được chị sưu tầm một cách rất công phu và đã mang đến cho người đọc những chi tiết thích thú bất ngờ. Lẽ dĩ nhiên mỗi bài viết có cách nhìn khác nhau, tùy theo kỷ niệm và sự trân trọng của các tác giả đối với ông. Là một chiến sĩ mũ xanh và cũng là người sống nhiều năm cùng đơn vị tiểu đoàn 2TQLC với niên trưởng, tôi xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ sâu xa về việc làm vô cùng cao quý của tất cả những vị nói trên. Nhiều bạn bè xa gần đã hỏi tôi tại sao bạn là người dành hết đời binh nghiệp của mình tại tiểu đòan 2 TQLC từ khi mới ra trường cho đến khi là thiếu tá TÐP, đã từng là đại đội trưởng, là trưởng ban 3 suốt nhiều năm trời; đặc biệt nhất là thời gian niên trưởng Nguyễn xuân Phúc làm tiểu đoàn trưởng mà lại không có một kỷ niệm nào để viết về niên trưởng. Sự thật thì tôi là một trong những người hiếm muộn còn lại đã sống và đã từng có quá nhiều điều để viết về ông. Bên cạnh những hào quang sáng chói của một cấp chỉ huy gan dạ tài ba, niên trưởng Nguyễn xuân Phúc cũng có một đời sống bình thường như bao nhiêu người khác, ông đã sống hết lòng với anh em, chiến hữu, bạn bè, biết nghĩ đến những nỗi khó khăn của thuộc cấp, có những lúc thật uy nghiêm, trang trọng, xa cách, nhưng cũng có lúc thật thân mật, gần gũi như anh em trong gia đình. Bài viết nầy xin gửi đến tất cả chiến hữu xa gần cũng không ngoài mục đích và ý nghĩa đó. Ðể tôn trọng sự vắng mặt của một người đã khuất và cũng để ghi lại những kỷ niệm trong những năm tháng sống và làm việc dưới quyền của ông, tôi sẽ kể lại những sự việc có thật mà tôi đã từng biết hoặc liên hệ ít nhiều như là một sự tưởng nhớ về người niên trưởng đáng kính nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Cuối tháng 11 năm 1965, khóa 20 sĩ quan Ðà Lạt ra trường, 25 tân sĩ quan tình nguyện về phục vụ binh chủng TQLC. Tất cả được phân bổ cho các đơn vị tác chiến, trong đó 5 anh em chúng tôi gồm Tiền, Chính, Minh, Kiệt, Liêm, về trình diện hậu cứ tiểu đoàn 2 tại Tam Hà Thủ Ðức. Lúc bấy giờ tiểu đoàn vừa mới hành quân Ðức Cơ về, thiếu tá Lê Hằng Minh cũng vừa nhận chức vụ tiểu đoàn trưởng sau khi đã theo học khóa tham mưu cao cấp tại Hoa Kỳ. Nguyễn quốc Chính nhỏ nhất về đại đội 4 do trung úy Nguyễn xuân Phúc K16 VB làm đại đội trưởng, trung úy Trần văn Hợp K19 VB đại đội phó, Nguyễn tuấn Kiệt về đại đội 3 do niên trưởng Nguyễn ngọc Ðiệp K17 VB đại đội trưởng, tôi Phạm văn Tiền về đại đội 2 do đại úy Nguyễn văn Hay tự “Hay Chùa” làm đại đội trưởng kiêm tiểu đoàn phó, Nguyễn quang Minh và Hoàng như Liêm, 2 tên tuổi lớn nhất về đại đội 1 do trung úy Trần kim Hòang K17 VB làm đại đội trưởng. Bọn tôi thường cho rằng Chính là người may mắn nhất vì được 2 ông khóa đàn anh giúp đỡ hết mình, chiều nào cũng vậy, mỗi lần có phép về Sàigòn Chính thường được ngồi chễm chệ trên chiếc xe Jeep do chính niên trưởng đại đội trưởng lái, còn bọn tôi thì phải vất vã bám vào các chiếc xe “lam chiều”, nhiều khi phải cuốc bộ vài ba cây số. Sau hơn tháng trời dưỡng quân tại hậu cứ, tiểu đoàn có lệnh hành quân bảo vệ vòng đai thủ đô Saìgon vùng Tân Thuận Ðông Long Kiển, thiếu úy Nguyễn quang Minh đã tử thương đầu tiên tại mặt trận nầy, còn thiếu tá Lê hằng Minh thì bị một viên đạn xuyên qua đỉnh của chiếc nón sắt tuy nhiên vẫn bình yên, và cũng từ đây lệnh bắt buộc phải đội mũ sắt khi đi hành quân được áp dụng triệt để, chúng tôi không còn dịp đội nón “Bo vành”rất cao bồi như kiểu cao bồi Texas khi đi hành quân nữa. Mặc dầu vậy hình ảnh một trung úy Nguyễn xuân Phúc với chiếc nón” Bo”vành đội trên đầu lúc đơn vị ở hậu cứ hoặc đi phép về Sàigòn vẫn là hình ảnh ăn khách nhất đối với anh em chúng tôi. Cuối tháng 2-1966 tiểu đoàn 2 tham dự hành quân với chiến đoàn “A” do trung tá Nguyễn thành Yên chỉ huy, trong cuộc xung phong vào An Quý, Cự Tài tại vùng Bồng Sơn Tam Quan tiểu đoàn đã bị thiệt hại khá nặng về số binh sĩ tử vong cũng như bị thương. Trung úy Ðiệp đại đội trưởng đại đội 3 đã tử thương tại trận nầy, riêng đại đội 4 do niên trưởng Phúc chỉ huy đã chiếm mục tiêu bên sườn phải, buộc địch phải “chém vè” tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị còn lại ồ ạt xung phong giành chiến thắng. Danh xưng “Trâu điên” cho đơn vị cũng phát xuất từ trận đánh lịch sữ nầy. Chỉ 2 tháng sau đó tiểu đoàn lại có mặt tại Quảng Ngãi cùng với tiểu đoàn 3 TQLC truy kích địch tại núi đồi Ba Gia và lần hành quân nầy niên trưởng đã phải lòng một người đẹp tại thành phố nhỏ bé nầy, và một cuộc tình “anh tiền tuyến, em hậu phương” đã bắt đầu, kết quả cháu Ðức con anh chị đã được ra đời, cháu rất đẹp trai có cái đầu thật to và đôi mắt sáng giống bố được mang về cho ông bà nội săn sóc, còn anh chị chẳng bao giờ tiến đến hôn nhân. Thỉnh thoảng sau nầy chị thường hay đến thăm niên trưởng tại hậu cứ sau mỗi lần hành quân về. Nghe nói chị đã lập gia đình với một anh dược sĩ nào đó, còn niên trưởng vẫn là một cấp chỉ huy độc thân thứ thiệt ở vậy nuôi con. Trong biến cố Phật giáo miền trung 1966, niên trưởng vẫn là một trong những vị đại đội trưởng giỏi của tiểu đoàn được đặc cách đại úy tại mặt trận, còn thiếu tá tiểu đoàn trưởng Lê hằng Minh đặc cách trung tá, sau đó niên trưởng đã bị thương trong trận độn thổ phục kích của tiểu đòan tại cây số 23 quận Phong Ðiền vào ngày 29-6-1966, cùng lúc với trung tá Lê hằng Minh đã tử thương với nguyên trung đội cảm tử của mình. Năm 1967 niên trưởng về làm tiểu đòan phó tiểu đòan 5 TQLC, sau khi mãn khóa học tham mưu tại Ðalạt Niên trưởng đã nổi tiếng trong trận chiến thắng Rạch-Ruộng để rồi tháng 4-68 lên thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6 TQLC tham dự mặt trận Tết Mậu Thân đợt 2 tại Sàigòn, niên trưởng lại bị thương nhẹ, sau thời gian điều trị lại về làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn công vụ SÐTQLC, đến tháng 6 năm 1969 về lại tiểu đoàn 2 thay thế chức vụ tiểu đoàn trưởng từ trung tá Ngô văn Ðịnh bị thương.

Thời gian nầy cá nhân tôi vắng mặt tại tiểu đoàn vì đang theo học khóa “Basic School” tại Hoa Kỳ”, về trình diện lại tiểu đoàn vào tháng 8 trong lúc đơn vị đang hành quân tại Chương Thiện.

Chiếc trực thăng Chinook mang tôi từ phi trường tân sơn nhất vào vùng hành quân Gò Quao, kinh Xáng Cụt với hơn 20 tân binh để bổ sung cho các đại đội vì tiểu đoàn vừa chạm địch nặng trước đó mấy ngày. Gặp lại niên trưởng sau nhiều năm tháng trời xa cách lòng tôi cảm thấy sung sướng và an tâm vô cùng vì rồi đây tôi sẽ được chỉ huy bởi một đàn anh đáng kính.Niên trưởng cho tôi biết là chính ông đã xin cho tôi về lại tiểu đoàn để chuẩn bị nhận chức vụ đại đôi trưởng. Trong buổi cơm chiều hôm đó, tôi có tâm sự rằng các bạn khác của tôi may mắn quá được về “khối bổ sung” để chờ đợi huấn luyện tiểu đoàn 7 TQLC tân lập, tụi nó có thời gian du hí ở Sàigòn quá đã! Câu chuyện đang vui vẻ tôi liền bị phản ứng của niên trưởng: “Nếu ông muốn thì ông cứ làm đơn xin về, tôi không ngờ tôi có một đàn em quá tệ như ông” Chiều hôm đó mặc dầu trời đang nắng nóng mà tôi cảm thấy lạnh cả người. Là một sĩ quan trẻ còn ham chơi, vả lại người miền Nam tánh tình bộc trực nghĩ sao nói vậy chắc chắn đã làm buồn lòng niên trưởng vì sự chờ đợi tôi về! Những ngày kế tiếp tôi vẫn ở tại BCH tiểu đoàn, chiều nào cũng vậy tôi được niên trưởng cho ăn cơm chung và những khi rỗi rảnh niên trưởng thường hay hỏi về hoàn cảnh gia đình tôi, về Minh, về Kiệt, về Chính, những thằng bạn cùng khóa đã hy sinh; đặc biệt nhất mỗi lần nhắc đến Chính là tôi thấy đôi mắt niên trưởng đỏ hoe hình như muốn khóc. “Chính” đã hy sinh trong cuộc hành quân trực thăng vận vào trưa ngày 31-12-67 khi đảm trách chức vụ đại đội phó đại đội 1, trong lúc điều động các trung đội tiến chiếm mục tiêu tại kinh Cái Thia quận Giáo Ðức tỉnh Ðịnh Tường, thời gian đó niên trưởng đã rời khỏi tiểu đoàn rồi. Còn Nguyễn tuấn Kiệt thì mất trước trận tiểu đoàn bị phục kích 2 tuần lễ tại mặt trận Gia Ðẳng bắc Quảng Trị. Giàn đại đôi trưởng của tiểu đoàn 2 bây giờ toàn là những anh em cũ. Trung úy Lâm tài Thạnh đại đội 1, đại úy Vũ đoàn Doan đại đội 2, đại úy Trần văn Hợp đại đội 4, đại úy Trần văn Thương đại đội 3, trung úy Chung văn Nghiêm đại đội chỉ huy, niên trưởng thiếu tá Nguyễn kim Ðể tiểu đoàn phó. Một đêm tối trời cánh B do thiếu tá TÐP chỉ huy bị tấn cống dữ dội, ngay lọat pháo kích bằng súng cối 82 ly đầu tiên của địch đã có 5, 7 binh sĩ bị thương, niên trưởng Nguyễn xuân Phúc đang điều động đơn vị cùng xin hỏa lực yểm trợ pháo binh của chi khu Gò Quao, chẳng biết phải làm gì tôi vào phòng trực của trung úy Nguyễn kim Thân ban 3 để theo dõi tình hình, thiếu tá cố vấn Mỹ thì ngơ ngác cứ ôm máy truyền tin chờ lệnh để báo cáo qua hệ thống cố vấn Lữ đoàn. Ông ta cứ đi qua đi lại  muốn biết những gì xảy ra mà sao nghe nhiều tiếng súng nổ từ hướng các đại đội, bọn tôi và Thân chẳng dám nói một lời nào nếu như chưa có lệnh.  Sau đó vài phút bầu không khí có vẻ dịu dần khi niên trưởng ra lệnh cho bọn tôi nhờ cố vấn Mỹ giúp đỡ liên lạc tản thương, như được nhắc nhở tới ông ta mừng lắm chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ sau thì những chuyến tản thương được bắt đầu, mọi việc đều bình thường trở lại vào sáng ngày hôm sau. Chỉ ít ngày sau tôi được lệnh đi “OJT”tức là đi thực tập với đại đội 1 của trung úy Thạnh. Chuyến hành quân kỳ nầy không chạm trận lớn, nhưng đa số bị thiệt hại vì mìn bẫy và bị du kích bắn tỉa hơi nhiều. Tiểu đoàn lại được lệnh về nghỉ dưỡng quân hậu cứ sau đó, tôi được lên đại úy vào tháng 10 trong danh sách thăng thưởng thường niên của bộ TTM và được tiểu đoàn cho lệnh đứng ra thành lập đại đội mới, lấy tên là đại đôi 5, được góp nhặt lại từ mỗi đại đội khác trong tiểu đoàn một trung đội, còn đại đội 3 TÐ 2 sẽ do trung úy Nguyễn xuân Quang K19 Thủ Ðức dẫn về trình diện tiểu đoàn 7 tân lập, đại úy Trần văn Thương thuyên chuyển về thành lập đại đội viễn thám SÐ.Tháng 5 năm 1970 tiểu đoàn được tăng phái cho biệt khu 44 hành quân vùng mật khu Năm Căn quận Cái Nước. Ðây là vùng sông nước chằng chịt được phối hợp di chuyển bằng lực lượng hải chiến Hoa Kỳ, chúng ta đã khám phá và tịch thu khá nhiều kho vũ khí cùng vô số tài liệu mật của địch, địch đã cố tình né tránh chúng ta, nên suốt mấy tuần hành quân mà chẳng có cuộc chạm súng nào, tiểu đoàn được lệnh di chuyển gấp lại Cần Thơ bằng GMC và từ đây về Châu Ðốc, bằng những chiếc HQ của hải quân VNCH mang chúng tôi thẳng tới Neak Lương, Campuchia vào sáng sớm ngày hôm sau. Lần hành quân nầy chúng tôi trực thuộc lực lượng Ðặc Nhiệm Thủy Bộ 211, TLP kiêm LÐT/LÐA/TQLC do đại tá Hoàng Tích Thông chỉ huy từ ngày 9 tháng 5 đến 30 tháng 6 năm 1970, cùng tham dự còn có 2 tiểu đoàn: 4 và 7 TQLC, nhiệm vụ chúng tôi là giải tỏa áp lực đang đè nặng tại thị trấn Preyveng, tiểu đoàn 2 đổ bộ thẳng vào phía tây thị trấn bằng trực thăng, thành phần còn lại LÐ di chuyển bằng xe từ Ban Nam lên để tiến chiếm mặt Ðông và Ðông Bắc, đại đôi 1 của Lâm tài Thạnh và đại đôi 5 của tôi được đổ bộ cùng với BCH cánh B đầu tiên vào giữa một cánh đồng trống đối diện với dinh tỉnh trưởng khoảng cách chừng hơn 1 km. BCH của thành phố vẫn còn cố thủ mặc dầu bị bao vây nhiều ngày, để tiện liên lạc chúng tôi được tăng cường thêm khoảng 1 tiểu đội lính Miên. Ðịch từ các cao ốc phía Bắc thành phố bắn ra dữ dội, ta chỉ là những bia di động trên cánh đồng trống, có một vài anh em bị thương, còn lính Miên chưa quen chiến trường nên bò lê lết chấp tay cầu nguyện, tiểu đoàn đã liên lạc một số phi cơ võ trang bao vùng và nhiều phi tuần hỏa lực yểm trợ, lệnh từ tiểu đoàn trưởng với ám danh đàm thoại “Thái Dương” là bằng mọi giá phải chiếm mục tiêu trước khi trời tối, áp lực địch yếu dần sau những lần không kích của ta, đại đội 5 và đại đôi 1 dùng khói màu xung phong hàng ngang, và cuối cùng chúng tôi đã chiếm được bờ thành, bắt tay được với lực lượng trú phòng vào lúc trời nhá nhem tối; để rồi sau đó toàn bộ tiểu đoàn đã hoàn toàn di chuyển hết vào trong, ngủ qua đêm tại đây với nhiều trận pháo kích dữ dội của địch đã có thêm một ít thiệt hại.   Sáng hôm sau tiểu đoàn đã bắt tay được với  TÐ/4 và TÐ/7 ở khu vận động hướng Ðông, tiếp tục bung rộng mục tiêu về hướng Bắc, chúng ta bắt sống được một số tù binh của các sư đoàn chính quy CSBV đa số là các thanh thiếu niên còn quá trẻ bị lùa vào chiến trường, số còn lại đã rút lui, tiểu đoàn có lệnh truy kích địch đồng thời chịu trách nhiệm bảo vệ vòng đai thành phố nầy,Việt Kiều của ta tại đây đã bị bọn Khmer đỏ “cáp duồn” nhốt dưới các căn hầm tối om từ nhiều tháng đã được cứu thoát, đa số được chuyển vận về các trại tiếp cư của ta ở Châu Ðốc. Lệnh từ tiểu đoàn được ban ra chặt chẽ, các vị đại đội trưởng phải kiểm soát binh sĩ của mình đừng để xảy ra những điều không tốt, niên trưởng đã nhiều lần đích thân xuống tại các trung đội để theo dõi và kiểm soát, nhờ vậy mà giảm đi rất nhiều tình trạng lính tráng ba gai vô kỷ luật, bây giờ đại úy Hợp đã là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 2 rồi, còn ÐÐ4 bàn giao cho đàn em Tr/u Kiều công Cự. Ðại đội 5 chúng tôi vẫn tiếp tục chịu trách nhiệm phòng thủ án ngữ mặt Bắc của thành phố Preyveng có một trung đội nằm tiền đồn tại một ngôi Chùa kiên cố. Theo dự đoán niên trưởng biết thế nào chúng cũng sẽ tấn công vị trí then chốt nầy, niên trưởng đã ra lệnh cho tôi hãy phối hợp với sĩ quan “đề lô” để dự trù những tác xạ tiên liệu trước, rồi đánh dấu những hỏa tập ấy cẩn thận trên bản đồ khi cần thì xử dụng cho nhanh, qua mấy ngày chẳng thấy động tịnh gì. Vả lại do sự hời hợt không cẩn thận của mình nên các điểm được ghi trên bản đồ đã bị mờ hết Khoảng một tuần sau, vào một đêm tối trời địch đã điều động nguyên tiểu đoàn để tấn công vào trung đội 1 của thiếu úy Minh đang cố thủ tại đây. Ðúng theo điều dự đoán của niên trưởng, tôi gọi máy báo cáo về để xin hỏa lực pháo binh yểm trợ, niên trưởng vào máy hỏi tôi: “Thế các hỏa tập tiên liệu của ông đâu rồi.”Tôi ú ớ chẳng biết đường nào mà mò, cứ chấm đại các tọa độ mà tôi nhớ mang máng chế ngự chung quanh vị trí đóng quân. Niên trưởng tức giận lắm, lẽ dĩ nhiên tôi phải hứng chịu những danh từ “cay đắng nhất”mà niên trưởng đã dành cho tôi, tôi chỉ biết “Nhận rõ đại bàng, Nhận rõ Thái Dương 5/5 ” May mắn cho tôi là các binh sĩ trong trung đội tiền đồn đã chiến đấu dũng mãnh nên giữ vững tuyến phòng thủ suốt đêm để chờ tăng viện vào sáng ngày hôm sau, và cũng nhờ mát tay nên chỉ có vài anh em bị thương nhẹ, còn địch buộc phải rút lui để lại nhiều vũ khí và xác chết. Niên trưởng đã đến thăm khi tan trận và tỏ vẻ hối tiếc về những lời lẽ nặng nề đã dành cho tôi từ tối hôm qua, còn tôi chẳng biết nói gì hơn xin nhận lỗi về phần mình. Tiểu đoàn tiếp tục nhiều cuộc hành quân đổ bộ bằng trực thăng vào các căn cứ địch, nhiều cuộc chạm súng đã xảy ra và cũng bị thiệt hại khá nhiều. Về lại hậu cứ sau gần 2 tháng trời hành quân tại Campuchia, để rồi vào tháng 7 năm 1970 tiểu đoàn được không vận ra Ðà Nẵng, bắt đầu những ngày tháng hành quân liên tục ở miền địa đầu giới tuyến, qua các căn cứ Sarge, Bá Hô, Holcom, Cùa, Mai Lộc.. để rồi sau đó tăng cường cho biệt khu Quảng Ðà hành quân vùng rừng thiêng nước độc Ðức Dục, Quảng Nam. Tháng 2 năm 1971 từ phi trường Biên Hòa TÐ/2 được chuyển vận ra Phú Bài, rồi di chuyển vào vùng Khe Sanh tham dự giai đọan cuối của cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào. Trong khi chờ đợi tiểu đoàn hành quân lục soát an ninh toàn bộ vùng núi đồi quanh khu vực, sau đó chính thức tham dự vào những ngày đầu tháng 3 năm 1971. LÐ/147 do đại tá Hoàng Tích Thông chỉ huy gồm các tiểu đoàn 2, 4, 7, được trực thăng vận vào căn cứ Delta. Ðây là một dãy đồi có thế yên ngựa ở độ cao 550m gồm 2 mõm nhỏ, mặt Bắc đặt BCH Lữ đoàn, còn phía Nam chỉ có khả năng đủ chỗ cho một pháo đội hỗn hợp gồm 2 khẩu 155 ly và 6 khẩu 105 ly thuộc tiểu đoàn 2/PB/TQLC.Mặt tây là một triền dốc đá thẳng đứng, còn phía Ðông là những rẫy hoang cùng nhiều đường mòn chi chít Lữ đòan 258/TQLC cũng được trực thăng vận vào đỉnh Koroc cùng với 1, 3, 8 và tiểu đoàn 3 PB. Nhưng mặt trận chính vẫn là vùng trách nhiệm của Lữ đoàn 147.Tiểu đòan 4 TQLC được thả xuống và bung rộng về hướng Ðông Bắc, tiểu đòan 2 TQLC chịu trách nhiệm mặt Tây Bắc, trong khi đó tiểu đoàn 7 bảo vệ BCH lữ đoàn. Ð/úy Nguyễn Hoa khóa 20 Ðàlạt trưởng ban 3/TÐ7/TQLC bị tử thương cùng nhiều binh sĩ khác trong lọat pháo kích đầu tiên của địch vào căn cứ hỏa lực Tiểu đoàn 2 có 4 ÐÐT thì 2 người đã bị lọai khỏi vòng chiến đấu trong tuần lễ đầu tiên. Tr/uý Kiều công Cự ÐÐT/ÐÐ4 , Ð/úy Nguyễn kim Thân ÐÐT/ÐÐ2, tr/uý Bùi ngọc Dũng ÐÐP/ÐÐ2 cũng bị thương rất nặng cùng thiếu uý Trần văn Loan.Tất cả đã được tải thương kịp thời nhưng Dũng đã bị chết dọc đường, sau nầy được ghi nhận là mất tích. Như cục đường bỏ vào hang kiến, địch cứ thế mà bu vào. Sau khi rảnh tay ở mặt trận phía Bắc, địch dùng tất cả mọi nỗ lực hầu uy hiếp tràn ngập căn cứ. Hai trực thăng của QLVNCH trong chuyến tiếp tế tải thương đã bị phòng không địch bắn hạ nhưng vẫn cố gắng đáp xuống căn cứ, phi hành đoàn an toàn, pháo binh cơ hữu tại căn cứ bị kiệt quệ hoàn toàn, mọi sự yểm trợ nhờ vào Lữ đoàn 258 tại Korock và các phi vụ yểm trợ của không quân Hoa Kỳ. Tiểu đoàn 2 bị địch chận đánh khi họat động cách căn cứ khoảng 3, 4 km. Trong một phi vụ yểm trơ, một quả bom đã lạc vào ngay vị trí ÐÐ5 chúng tôi làm bị thương một số binh sĩ, mọi thương bệnh binh đều phải tải về ứ đọng tại BCH /LÐ không còn chỗ chứa, nên lệnh là phải tiết kiệm xương máu của binh sĩ tối đa. Sáng nào cũng vậy các ÐÐT đều phải về họp để nhận lệnh những việc cần làm trong ngày, niên trưởng Nguyễn xuân Phúc thường hay dặn dò bọn tôi tỉ mỉ là phải cố sức theo dõi và khuyến khích tinh thần binh sĩ, sớm muộn chúng tôi cũng được về vì tình hình không cho phép ở đây lâu. Chưa bao giờ tôi thấy niên trưởng buồn và đăm chiêu bằng lúc nầy, niên trưởng hút thuốc liên tục và thường hay bói bài một mình. Với khả năng Anh văn lưu loát niên trưởng đã điều động tất cả mọi phi vụ yểm trợ cho tất cả đơn vị thuộc Lữ Ðoàn, tiểu đoàn 4 và 7 cũng không tránh số phận như tiểu đoàn 2 chúng tôi, tất cả đã co cụm về chung quanh BCH /LÐ.Ðại bàng Thái Dương của chúng tôi đã được điều động về BCH /LÐ cùng trợ giúp cho đại tá LÐT.Kể từ giờ phút nầy niên trưởng đã lên máy thường xuyên trong việc phụ tá cho vị LÐT chỉ huy toàn bộ Lữ Ðoàn. Một trung đội đặc công cảm tử địch đã bất ngờ tấn công và chiếm được một số vị trí của đơn vị phòng thủ với ý định cắt đứt mọi tiếp viện từ ngoài vào hầu làm bàn đạp cho lực lượng còn lại tung quân tràn ngập BCH /LÐ. Từ tiền đồn phía Bắc được chính niên trưởng ra lệnh đem quân về giải tỏa khẩn cấp, tôi điều động 2 trung đội từ ngoài đánh vào, trong khi đó lực lượng của TÐ/7 từ trong đánh ra, địch lung túng ngơ ngác nên bị chúng tôi thanh toàn dễ dàng. Một số đã bị bắt sống và chết ngay tại các căn hầm chúng chiếm được bằng những quả lựu đạn thật chính xác của ta.Tất cả bọn chúng thuộc SĐ 324B có nhiệm vụ đánh chiếm BCH LÐ147. Chuyện gì đến thì sẽ đến, không thể nằm chần chờ chịu trận để quân số cứ hao hụt dần dần, LÐ đã có lệnh di tản chiến thuật từ quân đoàn, nhưng lệnh nầy chỉ phổ biến đến cấp tiểu đoàn trưởng mà thôi, lý do thật giản dị là cố gắng duy trì tinh thần binh sĩ hầu đủ thời gian sắp xếp cho kế hoạch rút lui. Niên trưởng hầu như có mặt trên máy vô tuyến thường xuyên ngày cũng như đêm để giữ vững tinh thần của anh em binh sĩ, tiểu đoàn 4 TQLC hoạt động xa về hướng Ðông Bắc bị thiệt hại khá nặng đã rút lui ào ạt băng qua vị trí đóng quân của ÐÐ5 chúng tôi.Cá nhân tôi có yêu cầu họ hãy nằm lại vị trí để giúp đỡ chúng tôi, nhưng tất cả đều vô vọng vì họ trong tình trạng không còn kiểm soát chỉ huy. Niên trưởng vẫn theo sát tình hình và thường xuyên khuyến khích chúng tôi, ÐÐ5/TÐ2 đã bị cô lập ngoài vị trí tiền đồn suốt hơn tuần lễ không tải thương, không tiếp tế, tất cả các điểm có nước dưới chân đồi đều bị địch bao vây và chế ngự, trời tháng 3 với cái nóng như thiêu như đốt miền Hạ Lào đã gây khốn đốn cho chúng tôi, vừa đói lại vừa khát, đó là vào những ngày 21, 22, /3/71. Vào buổi trưa sau khi họp các trung đội trưởng lại để báo cáo tình hình, ai nấy cũng vui mừng vì nghe tin là sẽ được rút, một cơn mưa bất chợt rất ngắn vào giữa buổi trưa hè đã được mọi người vổ tay mừng rỡ, tất cả nước đầy bi đong cùng đỡ lòng bằng những bao gạo sấy, nhưng rồi “phúc bất trùng lai”, một trận mưa pháo thật ác liệt của địch vào ngay vị trí đóng quân nhất là BCH đại đội, thiếu úy Nguyễn Kim trung đội trưởng vũ khí nặng đã tử thương cùng hạ sĩ Ngạch hiệu thính viên, nhiều người khác bị thương rải rác.Tôi vẫn liên lạc thường xuyên về tiểu đoàn nhưng mọi chuyện đều ngoài khả năng giải quyết của vị TÐT vào lúc nầy. Vào khỏang 6 giờ chiều ngày 23/7/71 có tiếng rồ máy của chiến xa địch từ xa, tôi báo cáo về niên trưởng thì ông cho biết đó là tiếng gầm gừ của máy bay đến yểm trợ cho mình, không sao đâu cứ an tâm, khoảng nữa giờ sau thì chúng đã mon men vào tuyến, và khi đó cũng là lúc tôi nhận được lệnh rút quân từ tiểu đoàn.  Thiếu úy Ðinh hồng Lạc người sĩ quan trẻ nhất và cũng gan dạ nhất trong đại đội đã bị tử thương ngay đợt tác xạ đầu tiên của địch, có vài chiếc bị khựng lại và bốc cháy do những quả đại bác SKZ 57 ly từ trung sĩ nhất Nguyễn Tế, giọng niên trưởng vang vang trong máy “Tiền Giang phải cho con cái move down south gấp”. Bật chạy ra khỏi hầm trú ẩn vừa chạy vừa hô to “Ð/úy Tiền ÐÐT/ÐÐ5 đây các Anh hãy theo tôi”. Cứ thế tôi lải nhải vào tận phía trong, BCH LÐ trống vắng, mùi hôi thúi của các tử thi nơi những chiếc poncho bọc kín không được tải thương trong nhiều ngày, vài ba chục trong toán lính bị thương còn lại đang hờn trách cấp chỉ huy, tôi vẫn hô to: “Ð/úy Tiền đây, các Anh hãy theo tôi”, giọng hạ sĩ Báu người lính gan dạ của đại đội bị thương vào chân trong mấy ngày trước khóc to nhất: “Chân em bị gãy làm sao chạy được ông thầy!” Nước mắt tôi tuôn chảy, miệng lẩm bẩm cầu nguyện ơn trên, trong khi đèn chiến xa địch bắt đầu soi sáng bắn nã theo lên đồi căn cứ. Không thể chần chờ được nữa, có tiếng hô to của giặc phía sau: “Hàng sống chống chết”. Tôi và 2 hiệu thính viên Ðặng Phước Thành và Nguyễn văn Chúc cùng nắm dây leo trên đỉnh dốc đá thẳng đứng tuột dù, chiếc dây quá tải bị đứt nửa chừng, thầy trò rớt chồng lên nhau trên mặt đất, tay mò mẫm khắp nơi trên cơ thể, đứng lên ngồi xuống, mới yên tâm là mình còn đủ sức thoát hiểm mưu sinh. Tập hợp lại tại chỗ dưới chân đồi được vài ba chục mạng thuộc nhiều đơn vị khác nhau, tôi ra lệnh tất cả hãy theo tôi và tuyệt đối giữ kỷ luật khi di chuyển. Thỉnh thoảng thì cũng có giọng của Ð/úy Hợp TÐP còn hầu như mọi sự điều động đều từ niên trưởng Nguyễn xuân Phúc, niên trưởng đã làm cho anh em chúng tôi cảm thấy thật an tâm, mặc dầu trong tình thế thật nguy kịch như lúc nầy, chúng tôi theo sự chỉ dẫn đó mà đi suốt đêm đến trưa ngày hôm sau mới trèo lên đỉnh dốc của một ngọn đồi cao nơi có tiểu đòan 3/TQLC chờ sẵn để tiếp cứu. Vài binh sĩ vì quá kiệt sức đã lăn ra chết ngay tại chỗ, tất cả thương bệnh binh được niên trưởng ưu tiên trong những chuyến tải thương đầu tiên, nhưng chỉ nửa giờ sau thì bãi bốc không còn an toàn nữa, địch trên đà chiến thắng xông lên tấn công mặc dầu trước sức phản công mạnh mẽ của các chiến sĩ “Sói Biển”, nhưng để tránh thêm thiệt hại, toàn bộ được lệnh di chuyển đến một nơi an toàn khác.Các chuyến trực thăng vận lại tiếp tục làm nhiệm vụ của mình ở bãi bốc mới, các sĩ quan tham mưu BCH LÐ, các Ðại Bàng lần lượt ưu tiên trong những chuyến bay đầu, nhưng niên trưởng vẫn là người bình tĩnh nhất ở lại điều động cho hết toàn bộ các đơn vị thất lạc.Niên trưởng đã thể hiện được trách nhiệm của một cấp chỉ huy đáng khâm phục, gần phân nửa tiểu đoàn bị hao hụt khi về lại Khe Sanh. Một cuôc diễn hành rầm rộ mừng chiến thắng sau đó tại Phú Văn Lâu vào ngày 12 tháng 4 năm 1971, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu duyệt binh trước các đơn vị đã tham dự HQ Lam Sơn 719 Hạ Lào, niên trưởng được thăng cấp trung tá cùng nhiều vị chỉ huy khác, Ð/úy Hợp TÐP lên thiếu tá , còn tôi và Lâm tài Thạnh mỗi người được ân thưởng “Ðệ ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương với nhành dương liễu”. Sau đó được không vận về lại hậu cứ bổ sung quân số và tái trang bị rồi lại tiếp tục lên đường chiến đấu sau thời gian 2 tháng huấn luyện bổ túc tại trung tâm huấn luyện quốc gia Vạn Kiếp, Bà Rịa, Vũng Tàu. Tháng 10 năm 1971 tôi được lệnh bàn giao ÐÐT/ÐÐ5 cho trung úy Huỳnh văn Trọn vừa du học Mỹ trở về để đảm nhận chức vụ trưởng ban 3 tiểu đoàn Do kinh nghiệm qua cuộc hành quân Hạ Lào vừa qua trong việc bảo mật truyền tin, niên trưởng đã ra lệnh cho anh em chúng tôi là phải tìm một con số ngụy hóa tên của mình, niên trưởng khóa 16 nên có danh xưng là 216, thiếu tá Hợp khóa 19 là 819, còn tôi là 324, đại úy Liễng ÐÐT/ÐÐ4 là 414. Từ đấy mỗi lần nói chuyện với nhau phải được ngụy hóa bằng những ám danh đàm thọai đàng hoàng, không còn những tên gọi “thẩm quyền, đại bàng, thái dương, mặt trời” như trước kia. Trong cuộc tấn công ào ạt của CSBV vào mùa Hè đỏ lữa 1972, tiểu đoàn 2 Trâu Ðiên chỉ có mặt vào những ngày cuối cùng tháng 4/72, khi sắp diễn ra cuộc lui binh lịch sử của QLVNCH ở mặt trận Bắc Quảng Trị, 2 lữ đoàn 147 và 258 đã bị tổn thất nặng nề, sư đoàn 3 BB cùng các Liên đoàn BÐQ hầu như tan rã toàn diện, Lữ đoàn 369 gồm các tiểu đoàn 2, 5, 9 do đại tá Phạm văn Chung chỉ huy là đơn vị còn lại mạnh nhất để tiếp cứu đồng đội và chặn đứng sức tấn công dũng mãnh của quân xăm lăng CSBV, một phòng tuyến mới được thiết lập ngay sát bờ Nam dòng sông Mỹ Chánh. Tiểu đoàn 2 Trâu Ðiên chịu trách nhiệm giữ an ninh con đường từ căn cứ Nancy sát QL1 đến tận cùng về phía trường sơn, ÐÐ/4 do đại úy Liễng chỉ huy trấn giữ Căn cứ đồi Barbara ở độ cao 300m, đây là điểm chiến lược quan trong nhất còn lại để bảo vệ tuyến phòng thủ phía Nam, BCH tiểu đòan đóng tại khu rừng trên nửa đoạn đường, các đại đội còn lại hoạt động chung quanh vị trí, với tầm nhìn xa của một cấp chỉ huy đầy kinh nghiệm, niên trưởng biết thế nào ÐÐ/4 cũng sẽ bị chịu ăn pháo và tấn công, một cuộc lui binh nữa để bỏ căn cứ rồi cũng sẽ được diễn ra trong tương lai không biết xảy ra bất cứ lúc nào, niên trưởng đã ra lệnh cho Ð/úy Liễng là hàng ngày phải có một toán xuống núi hoạt động chung quanh, cố gắng mở được một con đường thoát bí mật ăn thông với BCH/TÐ để khi cần thiết xử dụng hoặc để tiếp tế tải thương, khi khoảng 5km đường rừng được khai thông cũng là lúc địch tập trung nhiều hỏa lực pháo kích uy hiếp hầu tràn ngập căn cứ, lệnh cho ÐÐ/4 được lui binh rời bỏ căn cứ bất ngờ vào ban đêm từ Lữ Ðoàn để trống mục tiêu hầu dễ dàng cho không quân oanh kích đúng như tiên liệu của niên trưởng, nhờ vậy mà ÐÐ/4 đã về được BCH tiểu đoàn an toàn, tránh được cuộc phục kích nằm chờ sẵn của địch được chúng tiên liệu theo trục tiến quân, sau đó tiểu đoàn được điều động thay thế tiểu đoàn bạn để phòng thủ tuyến Mỹ Chánh, BCH được đặt trên một ngọn đồi nhỏ tại một nhà thờ vừa mới được cất, đây là thời gian sôi động nhất của cuộc chiến 72, hầu hết các hãng thông tấn ngoại quốc thường hay đến săn tin, cứ mỗi buổi chiều khi họ về thì đó là lúc địch tập trung pháo kích, nhờ có tiền sát viên bám sát nên chúng pháo thật chính xác vào vị trí ta, mỗi lần nghe tiếng “Depart”là niên trưởng giống hướng phương giác nghịch tìm đọc trên bản đồ để rồi ước lượng khoảng cách xin phi cơ quan sát tìm cách phản pháo, nhờ vậy mà mỗi ngày cường độ địch pháo kích bớt đi. Ðêm nào cũng vậy các đại đội phòng thủ ở tuyến đầu bị tấn công liên tục, nhờ tinh thần chiến đấu cao và hỏa lực yểm trợ dồi dào nên địch chẳng làm gì được ta, niên trưởng thức rất giỏi mỗi lần nghe nơi nào chạm địch là niên trưởng vào máy theo dõi tình hình liền, thay vì đó là công việc của sĩ quan B3. Làm sĩ quan tham mưu dưới quyền niên trưởng cũng khổ, cái gì niên trưởng cũng giành làm, vì chẳng ai làm vừa ý được như niên trưởng, cuối tháng 5/72 khi bắt đầu có lệnh phản công tái chiếm lại thị xã Quảng Trị cũng là lúc niên trưởng nhận được lệnh về làm LÐP/LÐ147, bàn giao TÐ/2 cho thiếu tá Trần văn Hợp TÐT, còn cá nhân tôi làm TÐP, trong những ngày đầu tiên của hiệp định ngưng bắn sau trận Cửa Việt ngày 28 tháng giêng 73, niên trưởng đã thường xuyên có mặt ở tuyến đầu trách nhiệm việc trao trả tù binh cũng như giải quyết các đơn vị CS còn kẹt lại bên trong vùng trách nhiệm của ta về bên kia chiến tuyến. Vào những ngày đầu năm dương lịch 75 trước sức tấn công ào ạt của quân CSBV, sư đoàn TQLC được thành lập thêm LÐ 468, niên trưởng đã đảm nhận chức vụ LÐT/369 cùng với trung tá Ðỗ hữu Tùng LÐP, cả hai niên trưởng đã mất tích trong những ngày di tản cuối cùng của QLVNCH rời vùng 1 chiến thuật vào những ngày tháng cuối cùng tháng 3/75.

Bên cạnh những hào quang sáng chói của một cấp chỉ huy mẫu mực, gan dạ, thông minh, hết lòng với thuộc cấp, niên trưởng cũng có một đời sống thật phong sương đầy hào hùng nhưng cũng không kém phần vui nhộn của người lính tác chiến. Niên trưởng là một tay nhậu cừ khôi nhất ít ai địch nổi, ông có thể uống suốt đêm nếu có ai đó cùng nhậu tán gẫu hợp “gout” mình. Ðêm ở nhà thờ Mỹ Chánh với Phan nhật Nam vào mùa hè đỏ lửa 72, có lẽ là một kỷ niệm khó quên khi người cố vấn quá say trốn đi ngũ sớm, chỉ còn niên trưởng và người niên đệ Phan nhật Nam, chén anh chén em tâm sự trong khi những tràn đạn pháo kích địch rải rác khắp đó đây. Mỗi lần như vậy niên trưởng thường hay kêu tên chửi đổng từ Hồ chí Minh đến Võ nguyên Gíáp, Lê Duẫn, Trường Chinh, Lúc cao hứng nhất thì niên trưởng lại hát những bài hát được sửa lời theo ý mình, 2 bản ăn khách nhất mà niên trưởng thích nhất là “Trấn thủ lưu đồn và Tình thư của lính”, niên trưởng là một tay tiếu lâm có hạng.Vì là sĩ quan độc thân nên niên trưởng xem đơn vị  cũng như gia đình, luôn luôn giải quyết những trường hợp khó khăn của thuộc cấp, mỗi lần tiểu đoàn về hậu cứ là niên trưởng ra lệnh các ÐÐT phải thường xuyên viếng trại gia binh, theo dõi khẩu phần ăn của binh sĩ mỗi ngày, nếu có ai đó đụng chạm đến quyền lợi của binh sĩ, niên trưởng sẽ trừng trị thẳng tay, làm đơn vị trưởng nhiều năm nhưng chẳng có gì riêng cho mình, con nhà giàu độc thân thứ thiệt thì tiền bạc chẳng có nghĩa gì đối với niên trưởng, là một người từng du học Hoa Kỳ nhưng niên trưởng cũng là người không bao giờ cầu cạnh hoàn toàn vào người Mỹ, Niên trưởng cũng là tay cờ bạc có hạng, biết chơi tất cả các lọai bài mà lại cũng là tay cao thủ từ mạt chược, tứ sắc, tổ tôm, xì phé, xập xám đến cờ tướng, bài cào cắt tê, nhưng tất cả chỉ là để giải trí cho qua hết thời giờ nhàn rỗi, chứ không có ý sát phạt.

Nguyễn xuân Phúc bạn ta 
Suốt một đời hào sảng 
Sống chết ở nơi nào 
Hồn xanh vẫn phiêu đãng 
Tuổi trẻ tánh ngông nghênh 
Ðến trường leo cổng trốn 
Lớn làm quan nhà binh 
Vẫn không hết ngang bướng.
Nguyễn xuân Phúc bạn ta 
Coi đời như củ sắn 
Sống không cửa không nhà 
Chết trên răng dưới đạn 
Thường khinh lũ quan to 
Chê sếp lớn sếp nhỏ 
Thương lính như thương con 
Suốt một kiếp loạn  ly 
Mà không vương bụi bặm

Nguyễn xuân Phúc bạn ta
Ðúng một nòi hào sảng

Ðỗ Quý Toàn   

Cuộc chiến rồi cũng qua, đời người rồi cũng hết, hôm nay ngồi ghi lại những dòng nầy như một trổi dậy từ ký ức của một đứa em đã từng có những ngày vui buồn với niên trưởng; những ngày hành quân gian khổ cùng chia nhau những giờ phút sinh tử tại chiến trường, hay những giờ phút thật cô đơn của đời lính lạc lỏng bơ vơ nơi hậu cứ, bên ngoài những ào ạt nóng bỏng của đời sống hằng ngày, tôi đã tìm được nơi niên trưởng những khoảng trống tinh thần của một kiếp người vô vị mà những cái chết thật tình cờ hầu như đang rình rập quanh đây, mỗi ngày mỗi giờ ở những người bạn đã lần lượt ra đi! Ðời sống con người chỉ là những quán trọ bên đường, còn đó, mất đó, niên trưởng đã sống hết cho tha nhân, chẳng có gì của riêng mình dù là một tí hạnh phúc nhỏ bé. Sự ra đi của niên trưởng cũng như nhiều sự ra đi khác, nhưng suốt hơn 30 năm qua vẫn còn là điều bí ẩn đối với chúng tôi, những người còn lại, nhiều thắc mắc ấm ức trong lòng vì với tất cả quyền lực và phương tiện trong tay nhưng trong hoàn cảnh nghiệt ngã nào niên trưởng đành bó tay cho số mệnh. Ðành rằng: “Cổ nhân chinh chiến kỷ nhân hồi”, nhưng sự vắng mặt nầy của niên trưởng cũng như niên trưởng Ðỗ hữu Tùng là niềm đau chung cho những người lính TQLC chúng tôi. Niên trưởng đã ngủ yên một nơi nào đó mà không ai thấy, không ai nghe, không ai biết! Mặc dầu tuyệt vọng hoàn toàn, nhưng trong tâm khảm của mỗi người lính mũ xanh đều ao ước một sự trở về của niên trưởng dù chỉ trong tưởng tượng của những giấc ngủ về đêm.

Arlington, Texas tháng 8-06
Mũ xanh Phạm văn Tiền