Ðàm Thoại Với Thầy Trần Ngọc Huyến
Trần Văn Hiển ghi lại
Lời
mở đầu:
"Nhất tự vi sư, bán tự vi sư". Kể từ khi biết
cắp sách đi học cho đến hôm nay, tôi đẵ có biết bao nhiêu
ông thầy. Từ ngày thực sự trưởng thành bước vào đời,
ngày gia nhập Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, và trải
qua hơn 12 năm phục vụ Quân Ðội, dưới quyền
những ông tướng tư lệnh và cấp chỉ huy, tôi thi hành
mệnh lệnh, áp dụng quân phong quân kỷ và xưng hô với những
vị đó bằng cấp bậc quân đội, mà không gọi họ bằng
thầy để bày tỏ sự ngưỡng mộ. Tôi đã xưng hô với cựu
Ðại Tá Trần Ngọc Huyến bằng "Thầy Huyến" với
tất cả sự kính trọng dành cho một bậc Thầy. Tôi không
bàn đến ở đây cũng như không muốn tranh luận với ai về
sự suy luận và sự lựa chọn này của tôi. Với nhận định
như vậy, tôi bắt đầu những ghi nhận của tôi về Thầy
Huyến. Và để tránh "hậu họa" có thể xảy ra cho
những bạn còn trong ngục tù CS, tôi xin tạm dùng "ám
danh" khi nói về các bạn ấy.
Nhà
tôi cách nhà Thầy Huyến khoảng 3 miles. Thỉnh thoảng tôi đến
nhà Thầy và Thầy thỉnh thoảng cũng đến thăm gia đình chúng
tôi. Ðề tài câu chuyện thường là về con cái, đời sống
kinh tế, như hai gia đình quen biết lân bang, ít khi bàn đến
những vấn đề chính trị. Nhưng, nếu có vấn đề gì nêu
lên hỏi ý kiến, thì Thầy vẫn sẵn sàng thảo luận.
Gần đây, Thầy đã về hư non với hãng Lumus Crest mà Thầy
giữ chức vụ giám sự hành chánh trong hơn 5 năm. Với sốn
tiền hưu và Social Security, Thầy sống an nhàn, đủ tiền
chi dụng.
Gần ngày nghỉ Lễ Lao Ðộng, tôi điện thoại xin đến gặp
Thầy để nêu lên vài điểm thắc mắc của anh em về Thầy.
cũng như hỏi quan điểm của Thầy đối với việc làm của
anh em. Thầy nhận lời ngay. Và sáng thứ hai, 7 tháng 9, 1987,
tôi đến gặp Thầy tại tư gia.
Thầy
ngôi chờ tôi trên cái ghế Lazy Boy màu sô-cô-la, hình như là
cái ghế dành riêng cho Thầy dành riêng cho Thầy trong phòng
khách nhỏ, nhưng xinh xắn này. Cửa lớn ra vào có hai lớp.
Lớp gỗ khép lại một bên, còn lớp plastic và khung sắt đóng
chặt lại để giữ không khí điều hòa trong nhà khỏi tiết
ra ngoài, mà vẫn để ánh sáng chiếu vào, thêm với ánh sáng
cửa sổ bên tay trái. Một tấm thảm đỏ tươi ôm cái cầu
thang từ cửa lên tận lầu thứ nhì, là nơi có hai phòng ngủ.
Bước sang tay trái là phòng khách. Với cái sofa, mấy cái
Love Seats, cái organ và dàn máy stereo. Cuối tường có một tấm
gương lớn chiếm trọn bức tường, nhờ đó phòng khách
xen như rộng gấp đôi. Trên tường sau ghế sofa treo hình Thánh
Gia và hình Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, chung quanh là những tấm
sơn mài màu hồng: Mai, Lan, Cúc Trúc. Trước mặt là cái bàn
kính nhỏ, trên đó có cái VCR nối với cái TV 45". Trên
đầu tường là bức tranh vẽ cảnh biển động. Gần tranh
là cái huy hiệu Cờ Việt Nam màu Vàng Sọc Ðỏ.
Tả hơi chi tiết như vậy, để anh em thấy nơi Thầy Huyến
đang sống ngăn nắp, tổ chức, không phô trương mà cũng không
lụp xụp. Có lẽ Thầy đang thực hiện cạu Thầy đã dạy
chúng mình ngày xưa: "L'élegance dans la modestie"! Lịch
sự trong sự khiêm nhượng!
Nhìn kỹ, phải nhận là Thầy già hơn trước. Nhưng không ai có thể bảo Thầy nay đã trên 60. Tóc tuy đã rụng nhiều, nhưng đầu vẫn còn đen, đường ngôi vẫn thẳng thắn, nhất là da mặt vẫn hồng hào và cửa chỉ của Thầy vẫn còn quắc thước, ung dung. (Thầy thường nói với tôi về cái bí quyết để tránh trở thành "lụm khụm" già nua, thứ nhất: Biết rõ những giới hạn của mình để đừng quá tham lam (tham ăn, tham làm giàu, thức khuya, lo lắng); thứ hai: Nắm trong tay một vài triết lý thực tiễn, là tìm lấy cái gì thực sự của mình, tỷ như hạnh phúc gia đình, tiền dành dụm của mình, sức khỏe của mình và của người thân yêu. Nhữnt thứ khác như công danh, tiếng khen chê, sự hơn thua với người khác, chỉ là những thứ giả tạo, nay còn mai mất, ngoài tầm tay kiểm soát của mình, đuổi theo chỉ hủy hoại trí óc và thân thể mình).
Sau
khi ngồi xuống trên ghế sofa, và uống vài hớp nước táo
lạnh, tôi nhập đề ngay.
Tôi: "Thưa Thầy, nhưđã thưa với Thầy, và tuy nhiều lần
Thầy cũng đã cho biết quan niệm về một vài việc làm của
các tổ chức quân nhân, kể cả tổ chức Võ Bị, tôi vẫn
mong có dịp, được Thầy cho phép nêu lên vài thắc mắc của
anh em về Thầy và thái độ gần như hững hờ của Thầy đối
với anh em. Nói thẳng ra như vậy, không hiểu có làm Thầy
bực mình không?".
Thầy: "Không! Anh cứ nói đi. Tôi cũng có nghe nhiều người
chuyển đến tôi điều đó. Nhưng hỏi để thỏa mãn sự
hiểu biết của riêng anh hay là anh đại diện cho ai?".
Tôi: "Cho riêng tôi. Nhưng nếu Thầy không thấy có gì
trở ngại, có dịp tôi kể lại với anh em".
Thầy: "Ðược! Nhưng câu hỏi trên đây của anh quá rộng,
sao không đặt lại từng phần ngắn để tôi dễ trả lời
hơn?".
Tôi: "Vâng! Vậy câu hỏi thứ nhất là: Anh em K16 vẫn còn
nhớ những giờ "Tìm hiểu tình hình quốc tế, quốc nội"
của Thầy. Những điều Thầy tiên đoán ờ Trung Ðông từ
thập niên 1960 nay đều trở thành sự thực. Anh em nhận thấy,
Thầy có cái nhìn xa rộng và chính vì vậy, anh em mong ước
có dịp gặp lại Thầy để ôn lại kỷ niệm cũ và để
nghe Thầy chia sẻ về nhiều điển trong tương lai. Nhưng không
biết Thần còn tình cảm gì với anh em không, còn anh em phần
lớn vẫn kính mến Thầy như cũ?". Thầy Huyến chớp mắt,
mặt ửng đỏ, cái triệu chứng mình đã biết là Thầy đang
bị cảm súc và đang cố gượng giữ lại sự bình tĩnh.
Thầy nói: "Trong quá khứ làm công bộc cho nước Việt,
có hai lần tôi hãnh diện và sung sướng nhất. Lần đầu,
vào năm 1955, khi Thủ Tướng Diệm cử tôi vào thành phần
phái đoàn chính phủ Viet Nam sang Paris thương thuyết với Pháp
dể trả lại độc lập thữc sự cho mìmh. Cái hãnh diện của
chàng trai 31 tuổi, được cử đi sứ nước ngoài cùng với
những người nổi tiếng đương thời, để đòi chính phủ
Pháp trả lại độc lập cho nước mình, tuy mình không phải
là kẻ thắng trận, đã biến thành một sự sung sướng tuyệt
với, khi chính mình đơn thương độc mã, bút chiến từng dấu
phảy, từng chữ, từng câu với đại diện Pháp, thảo nên
bản thoả ước quân sự, để hai chính phủ Pháp-Việt ký
với nhau khoảng tháng 4 năm 1956, theo đó, tất cả quyền hành
quân sự, tài sản trước đây thuộc quyền Bộ Tư Lệnh Pháp
được chuyển giao toàn vẹn cho chính phủ Việt Nam. Ðể giữ
danh dự cho phái đoàn Pháp và sau khi tham khảo ý kiến của
Tướng Trần Văn Dôn và Bộ Trưởng Trần Hữu Châu, tôi nêu
lên đề nghị trả cho Pháp 1$ (một đồng) danh dự khi họ
trao trả Bộ Tổng Tham Mưu cho QÐ/VNCH, và đề nghị này đã
được phái đoàn Pháp chấp thuận. Lần thứ hai, vào
đầu năm 1962, Tổng Thống Diệm, sau khi thăm Trường Võ Bị
Quốc Gia, đã như nhiều lần trước, triệu tôi vào dinh số
1 Ðà Lạt. Hôm ấy, Ông đắt tôi đi dạo vườn hoa trước
dinh. Ngồi trên ghế đá, tay gõ đầy điếu thuốc JOB, Ông
bảo tôi ngồi góc ghề tay mặt, nhưng tôi vẫn đứng yên
trước chỗ Ông ngồi, không dám ngồi. Ông nói: "Mấy lần
trước, tôi cho anh biết nhiều vấn đề ngoài tầm hiểu biết
của một chỉ huy trưởng quân trường, vì tôi biết anh là
người cần thiết cho nước nhà sau này. Những điều tôi nói
với anh, là để dạy anh tiến tới cái tầm quốc tế. Hôm
nay, mà cũng trong chương trình ấy, tôi muốn anh phải đích
thân dạy tác phong lãnh đạo cho khóa sinh viên gần ra trường
của anh. Vì dạy thanh niên thành sĩ quan đánh giặc, ông tướng
nào cũng làm được. Nhưng chỉ một mình anh, mới truyền
cho sĩ quan hiện dịch Trường Võ Bị cái sĩ khí của người
lãnh đạo văn võ đều có, để trở thành cán bộ quân sự
và dân sự nồng cốt cho nước nhà". Lúc ấy, có thể
tôi đã nhảy tới ôm hôn Ông Diệm, nếu tôi không tỉnh táo
nhớ rằng Ông là một con người mà tôi bắt buộc phải cách
xa 6 bước, đứng nghiêm mà chào kính. Việc ngồi chung ghế
đá với người ấy, quả là một sự phạm thượng, tôi đã
không dám làm, huống chi thực hiện cái tình cảm thiết tha
ấy? Tôi cảm thấy hãnh diện, ngây ngất vì câu nói của
người lãnh tụ mà tôi đã từng tôn kính từ ngày còn niên
thiếu, có mãnh lực say sưa, hơn là cái sắc lệnh thăng tôi
lên cấp tướng! Ðó là nguyên nhân mở màn cho những giờ
"Lãnh Ðạo Chỉ huy", để anh em mình thảo luận về
Thượng sĩ Bướng, Trung sĩ Lỳ, tại sao mình phải trống
trả tên láng giềng tham lam, hiếu chiến muốn chà đạp bàn
thờ tổ tiên trong can nhà nhỏ bé của mình. Tạo sao mới có
danh từ "Ða Hiệu" tiếp theo là tiếng gọi nhau vừa
xẹ xòa, thân mật, vừa hợm hĩnh "Cùi anh Cùi em".
Niềm hãnh diện khi nghe những câu trên đây của vị lãnh tụ đáng kính, sau đó cũng được biến thành sự sung sướng tuyệt vời, khi tôi nhận thấy trong cái đám bác tạp Khóa 16, mà trước ngày trực tiếp hướng dẫn, tôi chẳng thấy có gì đặc biệt, quả thật đã có những mần mống phong phú, để với lòng thành và phương pháp suy luận của tôi, sẽ trở thành những cổ thụ của Rừng Xanh sau này.. Mà quả thực, Rừng Xanh nước Việt đã có những cổ thụ ngạo nghễ, mà cội rễ đã khơi mạch trong cái vườn ươm Võ Bị của chúng mình. Quên sao được cái lối chào kính của BQ, NXP, TÐK, LVQ, NVH! Ðám Cùi này, nó có cái nhìn thẳng vào mặt người trên, mà kẻ nào có ít nhiều mặc cảm tự ty, chắc không muốn đứng nhìn nó lâu! Lối chào kính ấy, vóc dáng đi đứng ấy, dần dần đã trở thành lối chài kính, dáng vóc đặc biệt của toàn Khóa 16 và các Khóa về sau. Nó biểu thị một cái gì ở nội tâm khó tả mà ta chỉ gợi lên được phần nào trong mấy tĩnh từ "Kiêu dũng", "Cao ngạo".
Chắc
Hiển còn nhớ, lần đi tập trận, các Cùi, số ít thôi,
"tưởng bở" là các Thầy ở xa không thấy, đi hành
quân mà ẻo lả như 10 ngày không ăn, "lè phè như ông
phán chép văn thư ở phòng giấy". Bị kiểm thảo và
sau khi bị tôi hỏi: "Bằng chứng vi phạm danh dự đã
hiển nhiên, bây giờ các anh tự xử như thế nào?". BQ
"trưởng toán" các anh, đứng lên quay lui nhìn các bạn
ngồi sau lưng, rồi quay ra trước, đưa tay ngang trán chào kính,
rồi nhìn thẳng vào mắt tôi, trả lời dõng dạc:
- "Xin nhận hình phạt danh dự".
Thế rồi sáng hôm sau, Chủ Nhật, trong suốt mấy giớ, các
anh đã theo tiếng kèn, chạy, bò, chui, lăn mình vào bụi
gai, gục mặt vào vũng bùn, quần áo rách tả tơi, ngón tay
bị gai góc rạch rỉ máu, nhem nhuốc, nhễ nhãi, hôi thối!
Sau đó tôi hỏi:
- "Bây giờ các anh cảm thấy thế nào?". Các anh đồng
thanh trả lời:
- "Hãnh diện!"
- "Thế còn đợi gì mà không xếp hàng chạy về phòng,
tắm, thay quần áo rồi đi dạo phố?". Các anh hét lớn:
- "Hoan hô!".
Những sự kiện ấy xảy ra ngắn ngủi, nhưng đã trở thành một "thành phần cơ hữu" của đòi tôi, vì nó đẹp và thấm thía, như một bài thơ hay hoặc như một đoạn phim bất hủ. Như thế, làm sao mà tôi chẳng nhớ mãi các Cùi của tôi. Có thể, nay tôi quên mặt từng cá nhân, quên cả tên nữa, nhưng nhắc đến mấy tên "Cùi Khóa..." tự nhiên có một cái gì làm cho tim đập nhanh thêm.
Thầy
ngừng lại, dẫn tôi ra phòng ăn phía sau gần patio. Trên tường
có cái khung gỗ lộng kính, trong đó có cái bằng tốt nghiệp
trường Leavenworth và một tấm hình nhỏ trắng đen, in hình
ba người. Người phía tay trái là Tp36ng Thống Diệm, người
đứng đối giện phía tay mặt là BQ trong quân phục mãn khóa.
Người đứng giữa là Thầy huyến trong quân phục đạo lễ
áo trắng quần đen. Chỉ vào khuôn hình, Thầy nói:
- "Hình ảnh này rất quý đối với tôi. Ngày 30 tháng
4, 1975, lúc theo Tướng Vĩnh Lộc chạy lên tàu, tôi chẳng
mang theo được một thứ gì, chỉ có bộ áo quần che thân.
Văn bằng, giấy tờ căn cước, khai sinh mất hết! Tấm hình
này tôi cắt ở một tờ báo Việt. Ngày nào tôi cũng nhìn
nó để nhớ BQ, vì qua BQ, nhớ tất cả Cùi các khóa của tôi.
Vì không riêng gì đối với Khóa 16, tôi cũng còn nhớ nhiều
kỷ niệm đẹp với các khóa khác. Như Lê Huấn K18, suốt mấy
năm, Cùi này chẳng bao giờ tìm đến xin gặp riêng tôi một
lần. Có nói chuyện với nhau chăng là qua các giờ lãnh đạo
chỉ huy. Rồi sau ngày mãn khóa, trước khi lên phi cơ
bay về Quảng Trị nghỉ phép trước khi ra đơn vị tác chiến,
Huấn với áo quần dạo phố chỉnh tề đến nhà, xin làm
con đỡ đầu theo Ðạo. Cái lối suy luận của tên Cùi này
thật là cao ngạo. Vì xin làm con đỡ đầu trước ngày mãn
khóa, có thể bị coi là "cầu thân vụ lợi". Phải
đợi đến giờ ra khỏi tầm tay kiểm soát của tôi, mới
nghĩ thực hiện điều nó ấp ủ trong tâm hồn. Cái cao ngạo
và khí phách ấy, đã giúp Huấn trở thành một Trung Ðoàn
Trưởng nổi tiếng của Quân Ðoàn I. Trong chiến dịch Hạ
Lào, một trung đoàn duy nhất của Huấn đã nhận trọng trách
chận nút đoạn hậu cho QÐI ruát về căn cứ, cản chận mấy
sư đoàn Việt Cộng! Trong chiến dịch này, QÐI đã rút lui
an toàn. Nhưng Huấn đã vì nước bỏ mình, tuổi đời ớiớ
28 với cấp bậc Ðại Tá".
Trở
về phòng khách, Thầy tháo chiếc đồng hồ Omega Seamaster trên
tay trái trao cho tôi. Sau lưng đồng hồ, tôi thấy có khắc
mấy chữ: "T.V.B.Q.G KHÓA 18 KÍNH TẶNG". Thầy cầm cái
đồng hồ, mắt nhìn vào bức tranh vẽ biển động trên tường,
mỉm cười nói tiếp:
"Cái đám Cùi này cũng thật dễ thương! Nó phàn nàn là
K17 đi Dục Mỹ, K19 sau 8 tuần lễ sơ khởi được về thăm
nhà chỉ còn đoàn Cùi 18 ở lại trường, vừa phải học,
vừa gác trường, vừa làm tạp dịch sơn 800 cái giường sắt!
Tôi bèn tổ chức lớp thảo luận. Mở đầu, đánh vào điểm
ngạc nhiên, tôi nhờ Cùi giúp giải quyết một bài toán gia
đình riêng của tôi. Gia đình gồm có 3 anh em, anh Cả đi học
nghề xa, em Ba về thăm bà nội, chỉ còn chú Hai ở nhà, vừa
trông nhà vừa giữ trộm. Mùa màng đã chín, phải gặt ngay
cho vào kho, không thì mưa hư hết. Tiền bạc lại thiếu, không
thể thuê nhân công giúp. Vậy sao bây giờ?" Nói xong, tôi
đau khổ, vò đầu nhìn lên trần nhà, suy nghĩ.
Các Cùi xoay ra thảo luận inh ỏi. Nửa giờ sau, một rừng
tay giơ lên. Câu trả lời của mọi người:
- "Dễ quá mà! Chú Hai ráng chút, vì là tình trạng bất
khả kháng mà". Tôi hỏi lại:
- "Có biện pháp nào khác không? Vì biện pháp này làm
thiệt hại cho chú Hai quá". Cùi nhao nhao lên cãi:
- "Thế mới là tinh thần gia đình chứ! Việc nhà chứ
việc của ai đâu mà phàn nàn hơn thiệt?"
Tôi im lặng mỉm cười, nhìn đám Cùi ồn ào kia không chớp
mắt. Bỗng nhiên có tiếng trong đám Cùi la lớn:
- "Chết cha! Bị rroi vào bẫy rồi!"
Sau hồi im lặng, Cùi trưởng đứng lên chào kính hăng hái
nói:
- "Chúng tôi nhận lãnh trách nhiệm sơn 800 chiếc giường
sắt. Nhưng nếu sơn xong, sau 24 tiếng đồng hồ, xin phép
Ðại Tá cho phép ra phố 2 ngày".
Thế là Cùi thức đêm, chia nhau canh gác, đi hỏa thực, lo sạch
sẽ phòng ốc và tận lực sơn 800 giường sắt trong suốn
ngày thứ Bảy. Nếu phải dùng nhân công dân sự, phải tốn
hàng chục ngàn đồng và cả tuần.
Như Hiển thấy, đã 24, 25 năm rồi mà những kỷ niệm ấy vẫn chưa phai nhòa trong trí óc tôi. Như cái đồng hồ này, nó đã quá cũ, tôi đã thay giây đeo 3 lần, và cứ 2, 3 ngày, là phải sửa lại mấy phút, nhưng nó là chiếc đồng hồ ruột của tôi. Tôi có cái đồng hồ khác mới và chính xác hơn, nhưng chỉ cái Seamaster này mới là cái vừa ý nhất.
Tình cảm của tôi đối với các Cùi bây giờ tha thiết đậm đà hơn ngày ở quân trường. Vì tình cảm ấy đã được bồi dưởng thêm với niềm hãnh diện của người "Coach" trước các thành công rực rỡ "đàn gà ruột" của mình; với những dòng nước mắt không ngăn lại được, khi nhận tin, nhiều khi quá chậm, về sự ra đi không bao giờ trở lại, của những người đầy nhiệt huyết mà mình đã có dịp "GẶP GỠ, GẦN NHAU, BIẾT NHAU, THƯƠNG NHAU" để cùng nhau san sẻ một lý tưởng cao đẹp; với cái thắc mắc đến nay vẫn chưa giải đáp được là: "Giá như không có mình thời ấy, ở quân trường ấy, với niềm tin chắc chắn là nước Mẹ mến yêu chẳng bao giờ chết được, giá đừng nhúm ngọn lửa thiêng kia vào tâm não của đám người sẵn mầm nhiệt huyết ấy, thì vì vận nước thế nào cũng gặp cảnh suy vong, có lẽ mình không mang niềm ân hận đã vô tình đẩy họ vào cõi chết!"
Số kiếp thật là đau đớn! Tôi có ngờ đâu là những câu văn mà tôi đã cảm hứng viết ra trong bài "Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong" Trường Võ Bị, thường được đọc trong đêm trước ngày mãn khóa, mười mấy năm sau, đã ứng nghiệm vào chính những người em cùng lý tưởng với tôi:
"Sự
nghiệp đang công đeo đưổi,
Thôi đành gián đoạn nửa đường.
Chí tang bồng hằng mong thực hiện,
Thôi cũng đành ôm hận ngàn thu.
Mô đất lạ chôn vùi thân bách chiến,
Ðám sương mù tàn tạ mảnh chinh y!"
Lại
còn những người em khác, đang sống ngắc ngoải trong cái
thế giới mà thú vật làm chủ con người, những BQ kiêu hùng
đang như mãnh chúa rừng xanh, đang phải ngậm hờn trong cũi
sắt, trong lúc ấy thì, người mà họ gọi là "Anh Cả",
đang hưởng nếp sống an nhàn, mặc dầu là kẻ tha hương cầu
thực, cắn răng nhận làm những việc thấp kém, để tránh
ngửa tay lãnh tiền welfare của ngoại nhân. Ðó là cái tư tưởng
mặc cảm tội lỗi và sự bất lực của tôi. Lý trí muốn
bào chữa cho tôi là với tư cách một người đã trở về đời
sống dân sự 10 năm trước ngày nước mất, tôi chẳng có
trách nhiệm gì đối với việc này nói chung, và đối với
sự hy sinh và đau khổ của các Cùi nói riêng.
Nhưng đó là một câu tự bào chữa tầm thường. Giờ phút
này, tôi chẳng cần phải làm vừa lòng ai, chẳng cần ai ưa,
ai phục ai mến! Tiô nay đ ãthnàh "Tôi", viớ ciá
hay cái dở của nó rồi, không theo ai mà cũng chẳng muốn
ai theo, không thỏa mãn với nếp sống đang có, mà cũng chẳng
muốn mưu toan tranh dành, cướp dựt với ai! Ðiều chính là
sự thoải mái tâm hồn. Sáng vào chải tóc, nhìn hình phản
chiếu trong gương mà vẫn không thấy hổ thẹn còn sống trên
đời.
Anh nói là các bạn anh, một số lớn còn quý mến tôi, tôi
cám ơn họ và ghi nhận điều đó. Nhưng tiô ã quãen ếếp
sống "cho tôi" rồi. Vì vậy, tình cảm của tôi đối
với các Cùi, cũng chỉ là con đường một chiều, chiều của
tôi, mà không mong, cầu tiếng vọng lại. Dầu vậy, tôi cần
thú thật với anh là lương tâm tôi vẫn hằg dày vò tôi,
cho tôi cảm thấy mình là một đứa thất phu không làm xong
trọn vẹn cái sứ mệnh Vị Lãnh Tụ trao phó cho mình, đồng
thời lại là một người mang trọng tội gián tiếp đẩy
nhiều người đang có quyền sống vào tử địa.
Anh thấy chưa? Tình cảm của tôi đối với các Cùi, gồm nhiều khía cạnh phức tạp lắm. Cần nói thêm một chi tiết nữa là tình cảm ấy không thích ứng cho từng cá nhân, mà bao trùm tất cả các thành phần trong danh từ "Khóa". Tôi là người ưa nhìn vào sự thật chính xác. Các "Khóa Cùi" của tôi kiêu hùng, cao ngạo, chiến đấu hăng say cho lý tưởng Quốc Gia, nhưng có phải mấy trăm người ấy, cùng thụ giáo một thầy, một trường đều tất cả đã làm xong sự nghiệp cao đẹp ấy? Con người vẫn là con người, vậy không có nghĩa là tôi nhắm mắt chạy tới bất cứ con gà nào, chỉ vì nghe tiếng kêu quen biết, đầy kỷ niệm của thủa xa xưa?
Tôi thương mến các Khóa Cùi của tôi một cách đậm đà, với cái khuynh hướng "Riêng tư" (Khóa x...Cùi của tôi), trong cái nghĩa possessive, chủ quan, ích kỷ và hẹp hòi của nó.
Ngồi nghe Thầy Huyến nói và nhìn nét mặt Thầy, tôi hồi tưởng lại những buổi nói chuyện của Thầy 26 năm trước đây ở nhà phạn điếm. Vẫn cái lối nói hăng say, như muốn trút vào tai người nghe mối tâm tư của Thầy. Thầy dùng những hình ảnh dễ thấy, những câu nói dễ hiểu, để diễn tả mối cảm tình qua mấy chữ possessive, chủ quan, ích kỷ và hẹp hòi, tôi mới thấy cái cao độ của nó.
Nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao Thầy Huyến lại không tham dự bất cứ một buổi họp mặt nào mà cũng chẳng để ý gì đến hoạt động của nhóm anh em mình, và đây cũng là điểm chính tôi muốn tìm hiểu trong buổi gặp gỡ hôm nay, để có dịp làm sáng tỏ với anh em và bạn bè, tôi mạnh dạn hỏi tiếp:
"Xin hỏi Thầy câu hỏi thứ hai: Tình Thầy trò còn thiết tha như vậy, sao Thầy im hơi lặng tiếng trong suốt 12 năm qua, ngay cả đối với đám Cùi ruột của Thầy?"
(Bài kế tiếp, Thầy trả lời câu hỏi thứ hai)