Phi đoàn221 Trực thăng

Sep 2 at 5:38 AM

Phi Đoàn 221 Trực Thăng
Người kể Nguyễn Văn Ức
________________________________________
Đôi Dòng Tiểu Sử
– 11-1959: Gia nhập Khoá 16 Trường VBQGVN.
– 12-1962: Khi tốt nghiệp, định chọn TQLC, nhưng lại được tuyển về Quân Chủng Không Quân.
– 4-1963: Học Hoa Tiêu Trực Thăng tại Hoa Kỳ.
– 5-1964: Tốt nghiệp về phục vụ tại Phi Đoàn 217, Không Đoàn 33 Chiến Thuật, sau này di chuyển về Không Đoàn 74 Chiến Thuật tại Cần Thơ.
– 10-1969: Sĩ quan liên lạc Không Quân tại Hoa Kỳ.
– 1-1971: Phi Đoàn Trưởng PĐ 221, Không Đoàn 43 Chiến Thuật, thuộc Sư Đoàn 3 KQ tại Biên Hoà.
– 1-1973: Không Đoàn Phó KĐ 64 Chiến Thuật, thuoộc Sư Đoàn 4 KQ tại Cần Thơ.
– Tham gia các sinh hoạt cộng đồng, đặc biệt ở các hội đoàn cựu quân nhân tại Orange County, California từ tháng 4-1975 tới nay.

Cuộc đời binh nghiệp của tôi trải qua nhiều giai đoạn, nhưng có lẽ giai đoạn khó khăn nhất, nhưng mang nhiều ý nghĩa nhất là khi tôi nhận trách nhiệm yểm trợ cho mặt trận An Lộc vào năm 1972.
Tôi được thuyên chuyển về SĐ 3 KQ tại Biên Hoà và là phi đoàn trưởng 221 trực thăng từ đầu năm 1971. Nhờ thế, tôi đã thu thập được nhiều kinh nghiệm về hành quân trực thăng vận và quen thuộc với điạ thế vùng này. Đầu năm 1972, khi An Lộc bị VC tấn công và mặt trận trở nên khốc liệt, phi đoàn 221, là một trong 3 phi đoàn trực thăng của Sư Đoàn 3 KQ, đã được chỉ định yểm trợ trực tiếp cho quân bạn đang chiến đấu tại đây.
Trong một buổi họp tham mưu với Tư Lệnh Sư Đoàn 3 KQ tại Bộ Chỉ Huy Tiền Phương QĐ III tại Lai Khê, Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 KQ, cùng Đại Tá Nguyễn Văn Tường, biệt danh Tường “mực” (vì da của ông khá đen nên đơn vị gọi ông là “mực”), Chuẩn Tướng Tính đã ra lệnh cho tôi,
– Anh chiụ trách nhiệm chỉ huy trực thăng, yểm trợ cho mặt trận An Lộc.
Tôi đã tuân hành sự chỉ định này và thực hiện ngay các nhiệm vụ cần thiết. Khi cuộc chiến bắt đầu xảy ra, tôi thường bay C&C ra và vào An Lộc. Tôi đã chỉ huy phi đoàn trực thăng 221 đổ LĐ 81 Biệt Kích xuống Đồi Gió, (một ngọn đồi ở phiá Đông Nam, ngay sát thị xã An Lộc.) vào khoảng ngày 7 hay 8 tháng 4-72. Ngày hôm sau, tôi lại cùng phi đoàn chuyển quân tiếp viện của Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù vào cùng địa điểm. Khi đang bay, Đại tá Lê quang Lưỡng đã nói với tôi,
– Đến chuyến cuối cùng, anh chở tôi về Chơn Thành để tôi đi với “slick” (trực thăng chuyển quân) lên.
– Đại tá muốn đáp sau đơn vị cuối cùng phải không? Tôi hỏi.
– Anh dám đáp không? Đại Tá Lưỡng hỏi.
Tôi nói qua máy truyền tin (intercome),
– Thật sự khi bay C&C, mình chấp nhận đưa lưng cho nguời ta bắn. Trực thăng chở quân vào thường bay “raise mode”, sát ngọn cây để tự bảo vệ, nên đã hạn chế tầm quan sát của đối phương. Bay với cao độ như vậy, trực thăng vừa xuất hiện đã biến mất khỏi tầm nhìn của địch. Bọn chúng khó phản ứng vì không đủ thời gian. Ngược lại, C&C luôn bay ở cao độ từ 2500 đến 3000 bộ, nên dễ bị bắn lắm.
– Vậy thì thôi. Tôi sẽ theo chuyến cuối cùng xuống Đồi Gió.
Các đợt chuyển quân cứ thế, đến rồi đi, rồi quay trở lại nhiều lần trực thăng vận mới xong toàn bộ quân số của cả lữ đoàn. Cuối cùng, tôi thả Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn ND cùng với Đại tá Lưỡng, và Bùi Quyền, Trưởng Ban 3 Lữ Đoàn, xuống bãi đáp đang mịt mù đất và khói bụi. (Anh Bùi Quyền vốn là người bạn cùng khoá của tôi.) Trên đường vào An Lộc, tôi đã cho anh Quyền mượn một headset để có thể nghe được cuộc liên lạc giữa tôi và các đơn vị bộ binh, giữa Không Quân, và để có thể nhận lịnh trực tiếp từ vị Lữ Đoàn Trưởng. Cuối cùng, cuộc đổ quân tiếp ứng đã hoàn tất trong giai đoạn đầu của cuộc chiến.
Vào trung tuần tháng 4-72, khoảng một tuần sau, Phi Đoàn 221 lại chịu trách nhiệm trực thăng vận Trung Đoàn 8, SĐ 5 BB từ Lai Khê vào thẳng thị xã An Lộc. Lúc này, VC đã chiếm nữa thành phố về phía Bắc, trong khi lực lượng trú phòng đang ngăn chặn chúng ở phiá Nam. Vào lúc 5 giờ chiều, phi đoàn đã trực thăng vận được 2 tiểu đoàn của trung đoàn này, nhưng vì trời mưa rất lớn nên kế hoạch đưa tiểu đoàn còn lại bị hoãn cho đến ngày hôm sau. Tôi đã ra lệnh các trực thăng ở lại Lai Khê, trong khi tôi vào thăm Tướng Lê Văn Hưng vả ở lại qua đêm. Ngày hôm sau, khi tôi trở lại Lai Khê để chuyên chở nốt tiểu đoàn cuối cùng, thì cũng là ngày VC dùng xe tăng T54 tấn công vào thành phố. (LĐ3 BĐQ đã được trực thăng vận lên An Lộc ngay từ đầu trận đánh, trước khi CS tấn chiếm cầu Cần Lê, phiá Bắc An Lộc 10 km – Ban Biên Tập.)
Ngoài ra, Phi Đoàn 221 còn chiụ trách nhiệm tiếp tế và tải thương. Mỗi lần bay như vậy, phi đoàn cho 4 chiếc slick (trực thăng), cùng 3 chiếc gunship theo để yểm trợ, thay vì 2 như thường lệ. Với hoả lực hùng mạnh của 3 chiếc gunship, và sự linh hoạt của nó, mới đủ sức áp đảo hoả lực phòng không của địch vốn rất mạnh ở đây. Tất cả bay “raise mode” (bay thấp chỉ trên ngọn cây để đối phương không thấy và không kịp bắn) từ Tân Khai lên.
Cách cho “slick” bay sát ngọn cây để tránh ít bị VC bắn, nhưng phải bay theo cùng một lộ trình ngày này qua ngày khác nên không tạo được yếu tố bất ngờ, đã bộc lộ nhiều khuyết điểm. Chúng đã nghĩ ra cách ngăn chặn đoàn trực thăng ra vào An Lộc, bằng cách bố trí người nằm trên đọt cây cao su rồi dùng súng chận bắn. Mặc dù cố gắng nhưng một số máy bay vẫn bị trúng đạn của CSBV và phi hành đoàn bị thương khá nhiều. Các trực thăng dù không bị rơi nhưng khi về đến phi trường mới biết máy bay bị trúng đạn qua những lổ thủng còn lưu lại trên thân. Tình hình đã xấu nhưng vẫn chưa phải là xấu nhất, cho đến khi có 2 chiếc bị bắn nổ trên bầu trời cùng với phi hành đoàn. Tôi đã ra lệnh ngưng thực hiện các phi vụ, để chờ lệnh của Sư Đoàn 3 KQ.
Tôi đã đề nghị với Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh QĐ III, khi ông lên thị sát mặt trận,
– Thưa Trung Tướng, với mức độ thiệt hại như vậy, mình không thể tiếp tục yểm trợ quân bạn. Sự tổn thất hàng ngày sẽ khiến chúng ta không còn phương tiện. Đề nghị Trung Tướng tìm cách khác.
– Anh có cách nào không?
– Có thể xử dụng C123, hay C130 thả dù.
Sau khi họp với ban tham mưu, ông dã đồng ý với ý kiến của tôi. Ông đã đề nghị với Bộ Tư Lệnh KQ cho xử dụng C 123 và C 130. Tiếp tế bằng loại máy bay này lại bộc lộ khuyết điểm khác. Vì phải bay cao để tránh hoả lực phòng không của VC nên tỷ lệ hàng tiếp tế cho quân bạn chỉ khoảng 50%. Đa số đã lọt vào tay VC. Do đó, các chiếc máy bay này đã bay “raise mode” để việc thả dù chính xác hơn. Vì thế các phi hành đoàn gặp khó khăn hơn. Không linh hoạt như trực thăng, các máy bay này coi như “phơi bụng” chờ CSBV dùng đủ loại súng bắn. Cuối cùng, một chiếc C123 đã bị phòng không VC bắn rơi trên An Lộc. Tôi không rõ sự tổn thất của phi hành đoàn, nhưng chắc chắn không hứa hẹn điều tốt lành. Từ đó, việc dùng trực thăng để tiếp tế gần như không thể thực hiện. Khi tình hình chiến sự tại mặt trận An Lộc trở nên nghiêm trọng, đơn vị trú phòng chỉ còn dựa vào sự yểm trợ của B52, F5, và Cobra, phần lớn của không lực Mỹ. Vì chưa triệt hạ được hệ thống phòng không của VC hoàn toàn, Cobra cũng bị tổn thất nhiều dù đã bay ở độ cao 5000, 6000 bộ.
Sau 2 tuần lễ, trong buổi thuyết trình của QĐ III cho Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân. Sau phần thuyết trình, Trung Tướng Minh, xoay qua Chuẩn Tướng Tính, nói,
– Tôi nghĩ Th/Tá Ức có kinh nghiệm thực tế, do đó giao nhiệm vụ cho Thiếu tá Ức là hợp lý.
Chính vì thế, tôi không còn cơ hội khác hơn là tận tình thực hiện nhiệm vụ của một quân nhân. Hai ba ngay sau, viên tướng cố vấn Mỹ thuộc QĐ III nói với chúng tôi,
– Đã có đến 4 chiếc trực thăng của chúng tôi (Hoa Kỳ) vào An Lộc và không bị bắn.
Chuẩn Tướng Tính đã yêu cầu tôi kiểm soát lại. Tôi ra bãi đáp sân bay Lai Khê thì thấy 4 chiếc trực thăng của Mỹ vẽ 4 vạch trắng từ lườn bên này sang bên kia. Ngoài ra, phi hành đoàn còn đội helmet trắng. Tôi đã biết rằng chúng tôi đang bị chơi xỏ.
Tôi bình tĩnh cầm tấm bản dồ nói với viên thiếu tá phi công trực thăng Hoa Kỳ,
– I heard that you led to An Lộc with your 4 helicopers anh came back without being shot? (Tôi nghe nói ông đã hướng dẫn 4 trực thăng vào An Lộc mà không bị bắn?)
– Yes, Sir.
– Show me which flight path to go. (Chỉ cho tôi đường bay.)
Ông ta chỉ con đường đi vòng lên Tống Lê Chân rồi vào An Lộc. (Lúc này căn cứ TLC đang bị vây hãm, và tất cả vùng này đang nằm dưới sự kiểm soát của CS.). Nếu tôi ngây thơ nghe ông ta thì chắc chúng tôi không còn ai để tới mục tiêu. Tôi đã nói với ông ta rằng tôi có thể bay lệch sang trái hoặc phải 500m vì không nắm chính xác đường bay, do đó có thể bị VC bắn hạ. Tôi nói thêm,
– You anh I flight on my helicopper, then show me exactly the flight path to An Lộc. (Tôi và ông cùng bay trên máy bay của tôi, rồi ông chỉ cho tôi chính xác đường vào An Lộc.)
– No, Sir. I can’t.
Cho đến nay tôi vẫn không hiểu dụng ý của phiá Mỹ khi báo cho chúng tôi biết là họ có thể vào An Lộc bằng cách riêng của họ. Tất cả máy bay của ta đều sơn màu nguỵ trang, phi hành đoàn phải dùng quân phục nguỵ trang, mũ được sơn màu nguỵ trang, thế mà các phi cơ không tránh khỏi bị bắn trong suốt đường bay. Trong khi đó, máy bay của họ sơn vạch trắng, phi công đội mũ sơn trắng. Thật là một câu truyện nực cười!
Tôi đã trở lại phòng họp và không dấu khỏi sự bực dọc khi trình bày lại vấn đề với thượng cấp.
Sau nhiều lần VC tấn công chính diện vào An Lộc bị thất bại và thiệt hại nặng, nơi đây tương đối trở nên yên tĩnh. Địch dường như bị tổn thất nhiều nên không thể mở những trận đánh lớn hơn. Khoảng cuối tháng 5, đầu tháng 6, các đơn vị trấn giữ An Lộc rất cần thêm quân để tái bổ xung, thêm đạn được, và súng ống để tái trang bị. Vì bị pháo kích và tấn công lẻ tẻ, các đơn vị của ta từng ngày bị thiệt hại dần, như thương binh đang từ từ chảy máu mà không có dụng cụ cầm giữ. Họ cần được tiếp tế và tăng cường quân số mau lẹ.
Khoảng đầu tháng 6-1972, tôi được Trung Tướng Tư Lệnh QĐ III mời họp để bàn về việc trực thăng Trung Đoàn 15 của Sư Đoàn 9 BB và Tiểu Đoàn 6 ND vào An Lộc để tăng cường cho mặt trận. Tôi đã trình bày với Tung Tướng TL/QĐ III,
– Nếu Trung Tướng đồng ý đổ quân theo đề nghị của tôi, tôi có thể đổ hết Tr/Đ15 và TĐ6 ND, với hy vọng thiệt hại tối thiểu.
Cầm bản đồ, tôi đã kín đáo trình bày kế hoạch được phác hoạ trong đầu với riêng ông. Sở dĩ tôi làm như vậy là để tránh những tin tức hành quân có thể bị lọt ra ngoài, khiến VC có cơ hội chận đánh. Sau khi nghe tôi thuyết trình, ông nói,
– Tôi đồng ý.
Quay sang các đơn vị trưởng bộ binh, tôi nói,
– Vào 6 giờ sáng mai, trước khi trực thăng vận, tôi sẽ thuyết trình với quý vị điạ điểm và cách đổ quân.
Sáng hôm sau, tôi đã trình bày cùng Trung Tá Cần, Trung Đoàn Trưởng TĐ 15, và vị TĐT/TĐ6 Nhảy Dù,
– Đây là một cuộc đổ quân mà trực thăng không đáp. Máy bay chỉ “hoover” (bay là là) cách mặt đất khoảng 1m, rồi các đơn vị bộ binh tuần tự nhảy xuống, vì điạ điểm này là một khu rừng chồi nên máy bay không thể đáp thẳng xuống đất.
Tôi đã bay C&C từng ngày ra vào An Lộc nên gần như thuộc lòng điạ thế nơi đây. Một khu vực nằm bên trái Tân Khai, cách An Lộc 3 km về phiá Nam, bên trái QL 13, là một khu rừng thưa sát rừng cao su, diện tích khá lớn. Khu vực này không tiện cho trực thăng đổ quân, nhưng lại rất thuận lợi cho ta nếu thực hiện ý định này, vì VC không nghi ngờ nên chỉ bố trí vài chốt nhằm ngăn chặn và báo động nếu các đơn vị của ta muốn di chuyển về phiá Nam (hướng Saigon).
(SĐ3 KQ có 3 Không Đoàn Chiến Thuật, 1 Không Đoàn Yểm Cứ lo bảo vệ an ninh, và Không Đoàn Kỹ Thuật.
– 3 Không Đoàn CT gồm: Không Đoàn 43 CT, Không Đoàn 23 CT (khu trục), và 1 Không Đoàn 63 CT (F5).
– Không Đoàn 43 CT gồm các Phi Đoàn 221 UH1 Trực Thăng, 223 UH1 Trực Thăng, 231 UH1 Trực Thăng, và Phi Đoàn 237 CH 47 Chinook. Sau 1972, Không Đoàn này có thêm 2 Phi Đoàn Trực Thăng 245 và 251.)
Đây là lần đầu tiên tôi chỉ huy một cuộc đổ quân dùng một hợp đoàn, gồm khoảng 30 chiếc, thuộc 3 phi đoàn trực thăng của SĐ3 KQ, cùng một lúc, chưa kể trực thăng chiến đấu. Một phi đoàn có khoảng 33 đến 38 trực thăng. Nhưng trên thực tế, mỗi phi đoàn chỉ có thể dùng khoảng 10 cho mỗi “flight” (phi vụ), 3 “gunships” (trực thăng chiến đấu), và một C&C. Lý do là máy bay cần được bảo trì và sửa chữa. Bình thường, mội “flight” của phi đội dùng khoảng từ 10 cho đến 15 trực thăng chở 1 đại đội, đổ xuống mục tiêu rồi quay về bốc đại đội kế tiếp. Giờ đây 3 phi đoàn gồm khoảng 30 chiếc trực thăng, mỗi phi đoàn cất cánh cách nhau 5 phút, trực thăng vận nguyên cả tiểu đoàn bộ binh xuống mục tiêu, trong một lần.
Trong đợt đổ quân đầu, một “gunship” đã bị bắn hỏng nhưng đã cố gắng bay vào khu vực có quân bạn nên cả phi hành đoàn được cứu. Các đợt sau các máy bay đều bị bắn và bãi đáp bị pháo kích. Qua báo cáo từ dưới đất, cho biết VC cũng đã pháo kích vào vị trí gây thiệt hại ít nhiều cho đơn vị bạn. Rõ ràng VC đã không kịp chuẩn bị để tấn công đơn vị này. Khi về đến Lai Khê, kiểm soát lại chúng tôi mới thấy các máy bay chở quân (slick) cũng bị trúng đạn nhiều qua những lỗ thủng trên thân, nhưng may mắn không có chiếc nào bị hư hỏng nặng.
Cuối cùng, cuộc hành quân trực thăng vận đã chấm dứt với tổn thất được coi như tối thiểu, như dự đoán. Qua tin tức của phòng hành quân, tôi được biết đơn vị này đã bắt tay được với các đơn vị phòng thủ, khoảng 2 hay 3 ngày sau đó.
Phi Đoàn 221 cũng đã trực thăng vận Tiểu Đoàn 6, thuộc LĐ1 ND xuống Đồi Gió, An Lộc. Khi tới đây, TĐ6 được lệnh phòng thủ trên đồi. TĐ đã bố trí 2 đại đội nằm trên, và 2 ĐĐ dưới chân đồi. Đêm hôm sau, VC đã tấn công và chặt đơn vị này làm hai. Vì áp lực của địch quá mạnh, 2 đại đội phiá dưới phải dạt về hướng Nam và bố trí trong một trảng rừng cao su, trong khi 2 đại đội phòng thủ phía trên được lệnh rút vào thị xã.
Phi đoàn 221 đã phải “bốc” 2 đại đội này về lại Lai Khê để bổ xung quân số cho cuộc đổ quân sau này. Vì quân số còn đông trong khi phương tiện chuyên chở giới hạn, nên có chiếc trực thăng phải chở đến khoảng 30 người, đến nỗi phi công phải “overdrive” (bắt máy móc làm quá sức) để cất cách. Khi về tới căn cứ, chiếc trực thăng này đã bị bỏ do máy đã hư hỏng. Trong giai đoàn này, SĐ 21 BB cũng đã được chuyển tới đây nhưng việc chuyên chở do một phi đoàn trực thăng tại Vùng 4 đảm trách.
Trong thời gian giữa tháng 4 và đầu tháng 5, tôi vẫn bay C&C để chỉ huy. Một lần, tôi, ĐT Tường “Mực”, và viên Đại Tá Cố Vấn SĐ3 KQ bay vào AL để quan sát tình hình. Đột nhiên, phòng không 23 ly của CSBV bắn nổ cách tôi khoảng 50m, khiến máy bay bị dội ngược quay ngang 90 độ, khi cơn cuồng phong của sức nổ không hất vào thân máy bay. Chúng tôi may mắn không ai bị thương nhưng đã bị giao động dữ dội. Về đến Lai Khê, chúng tôi mới biết cánh quạt đuôi có nhiều lỗ thủng. Thật là một kinh nghiệm khủng khiếp!
Mặc dù phi đoàn 221 có khoảng 30 trực thăng chuyên chở, nhưng phi đoàn có đến 110 sĩ quan hoa tiêu, 110 hạ sĩ quan trong đó một nửa là cơ khí viên phi hành và một nửa là xạ thủ phi hành. (Trong số những hoa tiêu này, tôi còn gặp các anh Nguyễn Văn Thân, Vũ Từ Hạnh, Đàm Khánh Thuỵ, Nguyễn Văn Điều, Vinh “râu”, Mai Văn Quế,…) Các hoa tiêu và phi hành đoàn không thể bay liên tục trong thời gian dài, do đó họ cần được phân công bay theo lịch trình ấn định và có thời gian để nghỉ ngơi.
Ngoài ra, Phi Đoàn 221 cũng có một số “gunships”giữ nhiệm vụ yểm trợ cho trực thăng chở quân (slick). Tuy nhiên trên thực tế, các trực thăng võ trang (gunship) cũng yểm trợ hoả lực cho các đơn vị bộ binh khi có yêu cầu. VC rất sợ loại máy bay này vì hoả lực mạnh, độ chính xác rất cao, và sự linh hoạt của nó. Khi trở về Lai Khê, các trực thăng võ trang thường dùng hết đạn dược mang theo.
Khi yểm trợ cho An Lộc, các phi công đôi khi mỗi ngày phải thực hiện 2 phi vụ khi có nhu cầu của chiến trường. Trong giai đoạn đầu khi cần chuyển quân và khi mặt trận chưa nặng, các phi công bay ra và vào An Lộc nhiều lần cho đến khi nào nhiệm vụ hoàn thành. Nhưng khi mặt trận trở nên khốc liệt, mỗi phi hành đoàn có thể chỉ bay một lần và phi vụ kế tiếp dành cho phi hành đoàn khác, nếu cần, vì việc điều khiển phi cơ chính xác tùy thuộc rất nhiều vào sự tỉnh táo của họ.
Ra vào một mặt trận không phải là chuyến bay dạo trên không, mà là những nguy hiểm mà các phi hành đoàn sẽ phải đối mặt. Mỗi lần vào An Lộc là mỗi lần như đi vào đất chết. Chúng ta cố gắng tiếp tế, chuyển quân cho An Lộc, trong khi VC cố tình ngăn chặn bằng cách bắn hạ trực thăng, phương tiện liên lạc duy nhất với nơi đây. Họ có thể nhận lãnh đạn AK, phòng không của CSBV trên đường bay đến và đi, nhận lãnh pháo kích khi đang ở bãi. Nhưng họ vẫn giữ bề ngoài tươi tỉnh, sẵn sàng chấp nhận tương lai bất trắc. Để làm tròn nhiệm vụ, phi hành đoàn gồm những phi công trẻ phải là những người can đảm, sẵn sàng chấp nhận hy sinh. Khi trực thăng cất cánh điều suy nghĩ duy nhất là làm sao thực hiện xong phi vụ và mong trở về an toàn.
Một lần, tôi đã nói chuyện với họ,
– Anh em nhớ, thời tôi mới ra trường làm phi công, VC chỉ dùng súng nặng nhất là AK, hoặc đại liên. Giờ đây, các anh sẽ đối diện với vũ khí nhẹ nhất là AK. Đừng lơ là, đùa dỡn khi điều khiển máy bay. Cần cố gắng giữ mạng sống của mình bằng cách theo đúng nguyên tắc, vì phi công chết vì chiến tranh chỉ chiếm khoảng 20%, còn 80 % chết vì trở ngại kỹ thuật, hoặc vì sự lơ đễnh, coi thường nguyên tắc điều khiển máy bay.
Phi hành đoàn và các đơn vị bộ binh đón nhận sự nguy hiểm có khác nhau. Sau thi hành một phi vụ xong trở về, phi hành đoàn có thể nghỉ ngơi chờ phi vụ tới. Nhưng các đơn vị bộ binh phải đối diện với nguy hiểm liên tục cho đến chừng nào mặt trận chấm dứt. Phi hành đoàn chỉ chiụ đựng ngắn hạn sự nguy hiểm, nhiều nhất là 30 phút, đến và đi khỏi mặt trận. Nhưng trong khoảng thời gian đó, phi hành đoàn trở thành mục tiêu chính của VC và có thể bị bắn hạ bằng nhiều loại súng của chúng bất cứ lúc nào. Định mệnh mỗi người tuỳ thuộc hoàn toàn vào sự may mắn, tính toán chính xác của phi công và các xạ thủ.
Sau 40 năm kể từ 30-4-75, hôm nay tôi có dịp cám ơn các quân nhân thuộc Phi Đoàn 221 đã góp sức cùng tôi làm tròn trách nhiệm nặng nề trong nhiều mặt trận, ở nhiều nơi, đặc biệt vào Mùa Hè Đỏ Lửa ở chiến trường An Lộc. Nơi đây, Phi Đoàn 221 đã phải thực hiện nhiều phi vụ vô cùng nguy hiểm, các phi công và các xạ thủ đã phải chiụ đựng áp lực tinh thần nặng nề, cũng như sự tổn thất lớn. Chỉ có những người có tinh thần kỷ luật quân đội cao và đầy lòng can đảm mới có thể chu toàn nhiệm vu.
Nhân dịp này, tôi xin nghiêng mình trước sự hy sinh của những người đã khuất. Phi đoàn 221 được mọi người nể trọng là do sự đóng góp của tất cả mọi người. Có thể nói, mặt trận An Lộc kéo dài khoảng 90 ngày thì tôi có mặt ở bầu trời AL khoảng 70 ngày. Tôi không bao giờ nghĩ có thể sống sót để gặp mặt gia đình, vợ con sau những tháng ngày yểm trợ cho mặt trận. Thượng đế đã thương anh em chúng tôi vì đến nay vẫn còn có thể gặp lại nhau. Những quân nhân của Phi Đoàn 221 Trực Thăng, còn sống sót sau chiến dịch 1972, chắc cùng ý nghĩ như tôi.
TNT
__._,_.___
________________________________________

Tin buồn bạn Nguyễn xuân Hoàng qua đời

             PHÂN ƯU

Được tin :

          Bạn NGUYỄN XUÂN HOÀNG

CSVSQK16/TVBQGVN

Vừa qua đời tại New Jersey ngày 30/6/2015

Hưởng thọ 75 tuổi

Toàn thể các bạn khóa 16/TVBQGVN xin chia buồn cùng chị Hoàng và tang quyến

Kính nguyện cầu anh linh bạn Hoàng sớm được siêu thoát.

Truyền thông khóa 16/TVBQGVN

Khóa 16 Bắc CA gặp mặt

Các bạn thân,

 

Vào lúc 11 giờ trưa ngày Thứ bảy 16/5/2015, 28 cụ ông và bà khóa 16 Bắc CA đã có mặt tại nhà hàng LMP Làng Nướng

trên đường Story để tâm sự sau một thời gian dài không gặp.

Cám ơn tất cả đã đến đông đủ, nhất là các bạn ở xa  Sacramento , như anh chị Hồng ngọc Hinh, Vĩnh Doãn, Đinh công Toản,

và  anh chị Huỳnh hữu Đức, ở Valejo,  chị Đức chân đau, nhưng vẫn cố đến với anh em. Cám ơn

.DSCN2973aDSCN2968aDSCN2966aDSCN2964aDSCN2963aDSCN2961aDSCN2962aDSCN2960aDSCN2959aDSCN2958aDSCN2957aDSCN2956aDSCN2955aDSCN2954aDSCN2951aDSCN2949aDSCN2947aDSCN2946aDSCN2944aDSCN2943aDSCN2941aDSCN2939aDSCN2938aDSCN2937a

Chúc tất cả khỏe, gia đình vạn điều may.

Tin buồn chị Trần phát Đạt qua đời

                          PHÂN ƯU

5224394256_84bd3709be_m

     Được tin buồn:

                Maria Giuse NGUYỄN ANH THƯ

             Hiền thê của bạn TRẦN PHÁT-ĐẠT

                                             (CSVSQ K16/TVBQGVN)

                    Vừa qua đời tại Đông Bắc Hoa kỳ vào ngày 7/5/2015

                                             Hưởng thọ 74 tuổi

    Toàn thể các bạn khóa 16/TVBQGVN xin chia buồn cùng bạn Đạt,

   Kính nguyện cầu anh linh chị Anh Thư  sớm về nước Chúa.

                                   Truyền thông k16/TVBQGVN

Tin buồn thứ nam của bạn Phạm minh Đức qua đời

PHÂN ƯU

Đựoc tin buồn,

Cháu PHẠM HOÀNG MINH QUỐC

Pháp danh: Thiên Quốc

Vừa qua đời tại Nam CA ngày 18/03/2015

Thứ nam của PHẠM MINH ĐỨC

  (CSVSQ K.16/TVBQGVN)

Thay mặt toàn thể các bạn khóa 16 xin chia buồn

cùng anh chị Đức, nguyện cầu anh linh cháu sớm siêu thoát.

Truyền thông khóa 16.

Phân ưu cùng anh chị Vĩnh Quốc

                              

 

                            5224394256_84bd3709be_m

                                      PHÂN ƯU

Được tin buồn: Ông Giacôbê NGUYỄN VIẾT CẦN

           Bào huynh của chị VĨNH QUỐC

Vừa tạ thế tại New York ngày 2/3/2015

                   Hưởng thọ 80 tuổi

Toàn thể các bạn khóa 16 xin chia buồn cùng anh chị Quốc và tang quyến

Kính nguyện cầu anh linh ông Giacôbê sớm hưởng nhan thánh Chúa

 

Truyền thông khóa 16


Mai tôi đi

<


 Mai tôi đi
Mai tôi đi…chẳng có gì quan trọng,
Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,
Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,
Chuyện bé nhỏ giữa giòng đời động loạn…
Bên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,
Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,
Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,
Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt.
Khoảnh khắc cuối.. Đâu còn gì tha thiết..
Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian.
Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,
Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi…
Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,
Để bước vào ranh giới của âm dương,
Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,
Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…
Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả,
Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,
Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,
Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế…
Mắt nhắm rồi… Xin đừng thương rơi lệ,
Đừng vòng hoa, phúng điếu hoặc phân ưu,
Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu.
Gây phiền toái, nợ thêm người còn sống…
Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng,
Đến trần truồng và đi vẫn tay không.
Bao trầm thăng, vui khổ suốt quảng đường,
Nay rũ sạch…lên bờ, thuyền đến bến…
Nếu tưởng nhớ..Xin âm thầm cầu nguyện,
Nên xem như giải thoát một kiếp người,
Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,
Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…
Cầu Ơn Trên, xác hồn xin phó mặc,
Sống hiện tình, những giây phút thiên đàng,
Ngày qua ngày, kết lại chuổi bình an
Là nguyện vọng thời gian còn tại thế..
 
Phước Tuyền/NQH (Jul. 31, 2013)
 
 
Tôi Đi rồi… 
 
Một mai kia, thân tôi không còn nữa,
Mảnh hình hài tứ đại trở về không..
Sẽ tuân theo đúng định luật vô thường,
Phàm hình tướng, tất nhiên đều hủy hoại…
 
Tôi đi rồi giòng thời gian vẫn chảy,
Vẫn ngày đêm tối sáng đuổi theo nhau,
Vẫn bình minh rực rỡ ánh muôn màu
Và chiều xuống hoàng hôn rồi đêm tối.
 
Vẫn bàng bạc trăng vàng soi muôn lối,
Muôn nghìn sao lấp lánh ở không trung,
Mây vẫn bay, gió thoảng với bảo bùng,
Cùng thảm hoạ thiên tai thường xuyên đến…
 
Tôi đi rồi, có chăng vài thương mến,,
Hay buồn phiền thầm lặng hoặc chê bai,
Theo thời gian sẽ biến nhạt mờ phai,
Rồi tắt lịm, lặng rơi vào quên lãng…
 
Từng thế hệ nối đuôi vào dĩ vãng,
Vẫn chào đời khôn lớn đến già nua,
Vẫn quay cuồng trong nhịp sống tranh đua,
Đầy loạn động giữa cuộc đời ô trọc.
 
Tôi đi rồi vẫn còn nhiều tang tóc,
Nghĩa trang buồn tăng mọc những nấm mồ,
Bao vòng hoa tươi thắm biến dần khô,
Sầu lặng lẽ theo chơn người quá cố…
 
Trên báo chí vẫn còn nhiều  cáo phó,
Với đau buồn mất mát của thân nhân,
Và phân ưu thân hữu ở xa gần,
Cầu hồn được phiêu diêu miền vĩnh cửu…
 
Vẫn nhảy nhót trên cành mùa hoả lựu,
Chim tung tăng ca hót mỗi sớm chiều,
Giữa đêm trường văng vẳng tiếng hạc kêu,
Và mưa xuống côn trùng hoài rên rĩ…
 
Gió Xuân đến, cỏ hoa đầy sinh khí,
Hè vẫn sang, inh õi tiếng ve sầu,
Rồi Thu về cây lá lại thay màu,
Đông tuyết lạnh phủ trùm màu tang trắng…
 
Vẫn còn mãi những cuộc tình cay đắng,
Chưa đạt tên, đã vội vã xa lìa,
Nhiều gia đình êm ấm bổng phân chia,
Vẫn thường xảy dưới bầu trời mưa nắng…
 
Trên xa lộ, những tuyến đường dài dẳng,
Vẫn ồn ào xe cộ chạy liên miên,
Và đêm đêm phố thị vẫn lên đèn,
Luôn hờ hững vô tư như thường thấy…
 
Có cũng vậy..không tôi… Đời vẫn vậy..
Vẫn vận hành, chuyển động chẳng ngừng nguôi,
Ước nguyện sao giây phút vĩnh biệt đời,
Lòng thanh thản nhẹ nhàng rời dương thế…
     
 Phước Tuyền /Ngô Quang Huynh  (July 10, 2012)
 

Chúc Xuân của Văn Cung

Dê Xuân lại về

Mùa Xuân này, mùa Xuân thừ tư

Xuân con dê, dê vàng ngơ ngác

Đạp lá vàng trên đất tha hương

Ngậm ngùi thay quê nhà bi đát!!!

***

Quê hương mình mãi còn xơ xác

Đất Mẹ điêu tàn như đống rác

Rác Pác Bó chuồn về Hà Lội

Cuộn về Nam Sài Gòn đổ nát!!!

***

Cũng chỉ vì đống rác Lénin

Rác Staline từ Mác cơ va xa lạ

Cuồn cuộn theo rác Đông phương hồng

Rác Mao Trạch Đông ăn dầm nằm vạ!!!

***

Rác cộng sãn chủ thuyết tam vô

Vô gia đinh, vô nhân vô đao

Rác “ Cáo chồn “ trần ai ám chướng

Xã bầy nhầy trên từng tấc đất!!!

 

Suôt bẩy mươi năm dài sống sượng

Đến bây giờ mãi còn dâm dật!!!

Chốn Hà Đình thây ma thối rữa

Còn nằm lì trên đất tai ương!!!

***

Con bọ hung sao còn nằm đó

Nằm bầy nhầy chưa đã hay sao?

Thối! Thối um sao vàng cờ đỏ

Nhuộm máu dân vùi thây khắp chợ!!!

***

Chợ bán nước bán buôn đen đỏ

Đen cả lòng đồ chó đồ trâu

Giêt! Giết nữa chẳng chừa con đỏ

Cho thằng Mao thằng Xit mặt sâu!!!

***

Mặt đỏ bừng uống máu nhân dân

Tội ác độc còn lưu nhục sử!!!

Lũ con cháu * Cáo chồn * ngu dại

Sao mãi còn khùng điên bại hoại!!!

 

Xuân Ất Mão giao thừa khai bút

Bút mực này soi tỏ nước non

Soi tỏ tim tôi từng giây phút

Nguyện cùng quê mẹ một lòng son…

 

Giao thừa Xuân Ất Mão

02-19-2015

 

MINH QUỐC CUNG VĂN

 

Quê hương, chùm khế ngọt của Nguyễn cửu Nhồng

QUÊ HƯƠNG, CHÙM KHẾ NGỌT.

Click to reply all

<h3 “”=””> [apchienluoc] QUÊ HƯƠNG. People

‘LMN’ via Apchienluoc

To

Nhong Nguyen
CC

Apchienluoc DienDan K16
Jan 26 at 4:46 PM

<h3 “”=””> [apchienluoc] QUÊ HƯƠNG. People

‘LMN’ via Apchienluoc

To

Nhong Nguyen
CC

Apchienluoc DienDan K16
Jan 26 at 4:46 PM

<h3 “”=””> [apchienluoc] QUÊ HƯƠNG. People

‘LMN’ via Apchienluoc

To

Nhong Nguyen
CC

Apchienluoc DienDan K16
Jan 26 at 4:46 PM