Thơ “Còn bao lâu nữa”, Không rõ tác giả

              CÒN BAO LÂU NỮA   
 
                    Bạn bè trên dưới tám mươi
                    Nhìn đi ngó lại chỉ mười năm thôi.
                    Số đông biến mất đâu rồi
                    Số hên còn lại lẻ loi chắc buồn.
                    Đếm kỹ còn mấy trăm tuần
                    Thời gian vùn vụt, bao lần gặp nhau ?
                    Thôi thì còn lại ngày nào
                    Hãy vui ngày ấy, miệng chào thật tươi.
                    Khác biệt gì cũng thế thôi
                   Mai kia nằm xuống để rồi được chi.
                   Sao bằng ta cứ vui đi
                   Hơn thua dẹp hết, ôm ghì bạn xưa.

Những chuyện tình của khóa 16, của Nguyễn cữu Nhồng

Những chuyện tình đầu đời trên Đồi 1515.
Đến tuổi nào đó, chúng ta hay quên những chuyện vừa mới xảy ra. Nhưng những chuyện cổ lỗ sĩ từ đời xa xưa, lại nhớ rất rõ.
Khoảng ngày nầy năm xưa. Từ khắp nơi kéo về  tụ hội tại đồi 1515. Những chàng trai mắt sáng môi tươi, xếp bút nghiên, chọn binh nghiệp. Họ ra đi với lý tưởng phụng sự tổ quốc. Họ, những  tâm hồn tươi trẻ vốn nồng ấm tình cảm, như bạn Tôn Thất Lăng, trên bàn học trong phòng lúc nào cũng có một khung ảnh giai nhân, mỗi lần viết thư cho người yêu, Lăng chọn giấy pelure màu xanh nhạt, ướp nước hoa thơm lừng. Lúc ngồi viết thư cho người đẹp Mộng Lân, đứa mô quấy rầy nó lúc nầy, coi chừng ăn đấm.
Với tình cảm uỷ mị đó, tôi tưởng Lăng sẽ mần thi sĩ, ai ngờ chẳng thành nhà thơ, mà thành một Võ Sư nổi tiếng.
Trong thời gian du hành trước ngày Mãn Khoá, tôi đã cùng Lê Thanh Quang ra biển Nha Trang tắm đêm, nhưng thật ra là trốn trại, lén mang theo áo quần civil,  đến chỗ vắng, mặc vào, đến nhà người yêu.
Tôi lớn lên từ xứ Huế cổ kính. Con gái Huế nổi tiếng “khó”, nên “đã thương bức chết”, tuy Quốc Học Đồng Khánh nằm sát cạnh nhau, nhưng ra đường đố dám chận đường. Mãi đến lúc người ta vào học Trường  Nữ Võ Tánh ở Nha Trang, mới có lần hẹn đầu tiên, được mẹ cho phép đi dạo phố một vòng. Mối tình đó thiên hạ trong Đại Đội đều biết, vì cũng như bạn Quang hay Lăng, trên bàn học trong phòng ngủ, đứa nào cũng có chưng hình người yêu.
Một Không Quân đào hoa, hiện trụ trì Website Khoá, cũng vướng một mối tình với một cô ở ấp Cô Giang, trong buổi học Chiến Thuật, thời trên vai còn mang khẩu Garant M1. Nhưng  đã kéo dài thương nhớ cho mãi đến hôm nay. Gây bao sóng gió cho bạn hữu!
Một bạn nữa, tuy có cái tên là Sắt, nhưng tâm hồn mềm yếu, chan chứa tình cảm, làm thơ rất hay. Sắt ơi, lần gặp thăm bạn trong quận Thủ Đức, bạn mặc xà lỏn đứng dạy Anh Văn cho mấy người muốn đi Mỹ, bảng đen là bức vách tường loang lổ. Chúng mình lúc đó nhìn nhau trào máu họng vì Quận Đường ngày nào, nay bọn Mán vào biến thành:
Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái.
Học trò năm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.
Bạn không khác gì thi hào Cao Bá Quát lúc bị đi đày.
Đời quả thật vô thường, có ai ngờ bạn Văn Cung không ăn thịt của chúng mình, nay lại trở thành một thi bá. Cũng không ai ngờ Bành Tổ Trần Văn Bá cho ra sách Hồi Ký.
Nhưng có lẻ mùi mẫn nhất, là mối tình của Lê Ngọc Quỳnh. Quỳnh lấy biệt hiệu là Ái Phượng Liên, chứng tỏ tình sâu đậm mức nào. Không rõ mối tình đó kết thúc ra sao?
Khoá chúng ta có rất nhiều nhà thơ, ngoài Hà Ly Mạc họ Võ, sau nầy thành Hiệp Sĩ Mù nghe gió kiếm, chúng ta còn có Sương Mặc Lam Nguyễn Duy Sự. Tôi và Sự cùng dốt toán, nên giờ thầy Phụng hay thầy Ích, Sự ngồi làm thơ rồi chuyễn cho tôi xem, tôi thuộc thơ Sự thì nhiều, còn cosin colog gì đều theo gió bay ra ngoài cửa lớp ráo trọi.
Còn một bạn, tầm ngầm mà đấm chết trâu, đó là bạn già Dương Xuân Bằng. Trong khi phần đông anh em trong Khoá còn “trinh nguyên”, thì “Bắc Đẩu” Dương đã có một đàn con ở hậu phương.
Ngoài lãnh vực văn thơ, trong hội hoạ chúng ta cũng có một Lê Huy Cự có tài hoạ chân dung, bức hình chị Cự nó trưng trên bàn thờ, do chính tay Cự vẽ, sống động như thật. Bạn người nhái Hồ Văn Xuân, thực hiện khung mẫu Cổng Nam Quan ngày nào để dàn dựng trong các buổi Đại Hội, đứng cạnh chụp hình, cứ y như về thăm Trường. Xuân còn có vài tác phẩm về Giáo Hội La Mã mang qua trưng bày ở Pháp.
Sáng nay trời Houston thật lạnh, co ro nhớ lại cái lạnh Đà lạt thuở nào, nhưng lòng bỗng thấy ấm lại khi nhớ về bạn hữu đồng Khoá ngày nào.
Trong mắt người đẹp Đà lạt, đặc biệt các cô Couvent Des Oiseaux hay Bùi Thị Xuân, thì những cặp Alpha đỏ trên vai các chàng trai hiên ngang, đã cuốn hút những ánh mắt chiêm ngưỡng với bao tâm sự thầm kín. Có thể còn rất nhiều chuyện tình “Lan và Điệp” khác, có chuyện đành “thương hoài ngàn năm”, nhưng cũng có chuyện có kết quả “ răng long đầu bạc”.

Cay đắng mùi đời, thơ Cung Văn

CAY ĐẮNG MÙI ĐỜI

Hết mưa trời lại nắng
Trong căn nhà cũ xưa
Bên tách cà phê đắng
Tôi nhìn theo cơn mưa.
Ngõ nhà ai hoang vắng
Mái nhà tranh lưa thưa
Đàn chó con ăng ắng
Rúc rỉa hạt cơm thừa
Nghe lòng minh trĩu nặng
Trời già có biết chưa!!!
Mưa rơi trên đồi vắng
Nặng hột trên cây dừa
Anh và Em lẳng lặng
Bước vào trong cơn mưa
Như những ngày trong trắng
Áo học trò thuở xưa…
Trong không gian nằng nặng
Gió lùa rặng tre thưa
Nhớ lại thời cay đắng
Trong ngục tù ngày xưa!
Mưa vẫn rơi đồi vắng
Tan tác những hàng dưa
Cuộc đời còn cay đắng
Hết chiều rồi lại trưa
Cơm dưa và muối mặn
Người khốn nạn hơn xưa!!!
Ngày 28/5/2014
Minh Quốc Cung Văn

Bằng hữu chân tình, thơ Cung Văn

BẰNG HỮU CHÂN TÌNH

Anh và Tôi đứng chung cùng trái đất
Việt Nam Cộng Hòa đâu thể nói thắng thua
Đồi 1515 trơ gan cùng tuế nguyệt
Dấu tích ngày xưa lá thông rụng biết bao mùa!

Ta vẫn đứng hiên ngang qua nhiều trở ngại
Sắc áo màu cờ còn nặng gánh trên vai
Hãy làm sao cho xứng đáng chí làm trai
Không chịu nhục trước uy danh Hồng Lạc!

Trước độc tài sao còn người ngu dại
Tham sân si luồn cúi miếng cơm thừa
Đi vái lậy từ Nam ra đến Bắc
Hãy cút đi về chầu lũ đười ươi!

Lũ khỉ đột trên tay cầm cái búa
Búa lên đầu cho nát óc mà thôi
Cái liềm hái cắt thịt gan cứa cổ
Đe dọa toàn dân ngữa cổ kêu trời!!!

Đất Mẹ Việt Nam chúng đập phá tan hoang
Chúng bán sạch núi rừng và biển cả
Bán xương máu của đồng bào vô tội vạ
Tội Ác tầy đình trời đất chẳng dung tha!

Bạn và Tôi tất cả cùng một chưởng môn
Hãy xóa sạch những cái gì nghịch lý
Đứng cùng nhau trên đỉnh cao Chân Thiện Mỹ
Với tất cả chân tính sám hối những sân si!

Đừng cố chấp trước dòng đời sai trái
Mở mắt mà đi khi tuổi đã xế chiều
Kẻo không kịp thời gian quay về Bến Giác
Trước khi mình nhấm mắt trăng hai tay!
9/17/2014
Minh Quốc Cung Văn

Bài ca tháng tư, mùa quốc hận, thơ Cung Văn

BÀI CA THÁNG TƯ MÙA QUỐC HẬN
Tháng Tư! Tháng Tư! Mùa QuốcHận!
Lá vàng lả tả khóc non sông.
Từng chiếc lá vàng : Từng giọt lệ
Khốc vì non nước trận cuồng phong!
Từng lớp người đi xoay vận nước
Như dòng thác lũ chảy xuôi dòng.
Người còn ở lại bền tâm huyết
Một tấm lòng son vững như đồng.
Ngưỡng mặt nhìn trời soi nhật nguyệt
Mà lòng đau thắt tận tâm can.
Ta đứng giữa dòng đời xuôi ngược
Một lòng chung thủy với non sông.
Thế sự thăng trầm đen thay trắng
Ta dại Ta khôn một kiếp người
Kiếp đời lưu lạc chưa từng trải
Có nghĩa lý gì trước cuộc chơi!
Thói đời đen bạc theo dòng chảy
Vững bước mà đi trước hiểm nguy.
Một đống tro tàn trên Đất Mẹ
Một bày quỷ đỏ rúc còn chi!
Dân đen thống khổ trơ xương thịt
Nước mất nhà tan lắm đoạn trường
Ruộng vườn đền miếu bay đâu mất
Khố rách áo ôm đứng chật đường.
Mẹ già con dại than như bộng
Rên xiết từng cơn nghẹn cả lòng!
Trời đất quay cuồng trong bão lộng
Máu đào cuồn cuộn chảy thành sông!
Nghĩa trang tử sĩ cô cô tịch
Cỏ cây vùi dập nấm mồ hoang!
Con cháu Hùng Vương đang quằn quại
Uất hận dâng trào ngập biển đông!
Mười năm trồng cây:cây khô kiệt!
Trăm năm trồng người: người ngu si!
Âm mưu thâm độc vô thương tiếc
Xích hóa tâm hồn lúc tuổi thơ!
Đỉnh cao trí tuệ sao ngu thế
Dốt đặc cán mai gặm củ gì?
Cúi mặt luồn trôn loài Dại Hán
Lên chân hống hách với dân lành.
Bán non bán biển bán luôn sông
Bán vịnh bán đảo sạch sành sanh
Tây Nguyên beauxite Tàu vơ sạch
Mở làng dựng ấp đất Bình Dương.
Trung Cộng di dân lập phố phường
Cơ đồ Tổ quốc chẳng tơ vương!
Tám mươi bốn năm trời điêu đứng*
Hồn thiêng sông núi ngậm ngùi thương!
Toàn dân vùng dậy thề quyết tử
Quét sạch quân thù xuống biển sâu.
“ Đất Việt trời Nam dân Việt ở
Sách trời đã định tự nghìn thu
Những phường nghịch tặc còn xăm phạm
Chắc chắn ngàn lần thảm bại hư!” **
Tháng Tư Quốc Hận đau hồn nước
Lịch sử ghi sâu đậm nét thù.
Anh linh liệt sĩ còn phưởng phất
Trong cõi bi thương hiển hiện về.
Đêm ngày cô tịch không hương khói
Một nén trầm hương tưởng niệm Người.
Di hài tử sĩ tìm đâu thấy
Chỉ thấy đau thương lịm cả hồn!
Nguyện cầu non nước thanh bình lại
“Thương Tiếc”*** ngày mai dựng dưới cờ.
Văn hiến nghìn năm tươi sáng mãi
Cho lòng dân tộc toại niềm vui.
Tháng Tư 2014
Minh Quốc Cung Van
*Từ 1930 đến 2014 là 84 năm
**Mượn l7i2 bài Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt.
***Tượng Thương Tiếc tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa
bị phá hủy sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Anh không đưa em về , thơ Cung Văn

ANH KHÔNG ĐƯA EM VỀ
Anh chưa đưa Em về
Thăm lại căn nhà xưa
Mẹ già chằm tơi lá
Khi mưa còn lưa thưa.
***
Anh chưa đưa Em về
Thăm lại cánh đồng xưa
Khi chiều vừa tắt nắng
Gié lúa vang đong đưa.
***
Anh chưa đưa Em về
Thăm lại bến đò xưa
Một sáng mai Thừa Phủ
Cô nữ sinh Đông Khánh
Trên con đò Hương xưa
Nụ cuời tuơi như hoa.
***
Anh chưa đưa Em về
Thăm lại đường Duy Tân
Có ngôi trương Đại Học
Luật pháp còn phân minh
Có đâu như bây giờ
Luật rừng rồi luật rú
Đau buồn không thể nói
Biết chửi sao cho vừa!
***
Anh chưa đưa Em về
Thăm lại Trường Văn Khoa
Văn Minh và Văn Hóa
Truyền thống ngàn năm xưa
Gìn vàng và giữ ngọc
Trân quý nếp văn phong
Hùng Vương còn rực sáng
Đời đời mãi ghi công
Có đâu như ngày nay
Theo Tàu phù vong tổ!!!
***
Anh chưa đưa Em về
Thăm Đai Học Khoa Học
Un đúc nhiều sinh viên
Thành những nhà Khoa bản
Nghiên cứu và phát minh
Bao công trình hữu ích
Chẳng bù như hôm nay
Toàn là Tiến Sĩ giấy
Đạo chích lại đạo văn

Chạy chọt ngồi ghế cao
Mang bao nhiêu tăm tiếng
Trước thế giới văn minh!!!
***
Anh không đưa Em về
Thăm lại quê hương xưa
Thăm giòng sông Hát Giang
Tưởng nhớ Hai Bà Trưng
Nữ anh thư xuất chúng.
Anh không đưa Em về
Thăm lại Đền Trấn Bạc
Thăm giòng sông Bạch Đằng
Hưng Đạo phá quân Nguyên.
Thăm lại Đền Tây Sơn
Viếng thăm gò Đống Đa
Thăm lại đất Thăng Long
Vua Quang Trung Hoàng Đế
Đập tan quân Nhà Thanh
Máu đỏ nhuộm sông Hồng.
Anh không đưa Em về
Thăm rất nhiều di tích
Của cha ông ngày trước
Bất khuất và hiên ngang
Không bao giờ chịu nhục
Trước quân thù bạo ngược
Trước độc tài áp bức
Thề một lòng chung sức
Quyết tử để tồn sinh
Một Việt Nam Hùng Cường
Một Việt Nam Tự Chủ
Một Việt Nam Tự Do
Hòa Binh và Dân Chủ…
Ngày 9/13/2014
MINH QUỐC CUNG VAN

Chúc mừng bạn Nguyễn nhựt Châu của Cung Văn

CHÚC MỪNG NGUYỄN NHỰT CHÂU

Châu Cambodge –

Chút niềm vui chung vui cùng bạn

Chung vui cùng chị Monique và hai cháu thân yêu

Đã cùng nhau đoạt học vị Master De Sciences

Laurence chị nhận vị thứ Mention Très Bien

Còn cô em Anne cặp kè Mention Bien

Chúc cả gia đình  vui mừng nào tả xiết

Lúc nước Pháp còn long đong thất nghiệp

Rất nhiều người tìm việc mãi không ra

Nhưng hai cháu Lau-Anne vừa mới ra trường

Đã cùng nhau chấp cánh về Hospital

Riêng Beau garcon Michaél Ingénieur thì nay đây mai đó

Công tác thường xuyên cho hãng Valéo

Nhật Bản, Đại Hàn, Sanghai, Tapei, Thailande Singapour

Hạnh Phúc dài dài phải không Châu Cambodge?!

Châu Cambodge là Châu năm mươi năm ngày trước

Còn Châu bây giờ là Châu Parisienne

Là chính hiệu Châu Kinh đô ánh sáng…

Chúc mừng Châu Paris và Chị Monique

Đã qua rồi những năm dài lận đận

Vẫn âm thầm ngày đêm hy sinh tần tảo

Lo chu toàn trách nhiệm mẹ cha

Nuôi dưỡng đàn con ăn học thành danh!

Xin chúc mừng Anh Chị đã thành công

Con Hạc Trắng giờ đây an nhiên tự tại

Vui hưởng tuổi đời cho thỏa thích thanh tâm…

Biêt Hạnh Phúc là đời mình Hạnh Phúc

Không có gì quý hơn Dân chủ, Tự do!…

11/8/2014 – Giờ Hoàng đạo chính Ngọ 11:07 AM

Cung Văn và gia đình

Những chuyện tình của khóa 16 (Nguyễn-cữu-Nhồng)

Những chuyện tình đầu đời trên Đồi 1515.
Đến tuổi nào đó, chúng ta hay quên những chuyện vừa mới xảy ra. Nhưng những chuyện cổ lỗ sĩ từ đời xa xưa, lại nhớ rất rõ.
Khoảng ngày nầy năm xưa. Từ khắp nơi kéo về tụ hội tại đồi 1515. Những chàng trai mắt sáng môi tươi, xếp bút nghiên, chọn binh nghiệp. Họ ra đi với lý tưởng phụng sự tổ quốc. Họ, những tâm hồn tươi trẻ vốn nồng ấm tình cảm, như bạn Tôn Thất Lăng, trên bàn học trong phòng lúc nào cũng có một khung ảnh giai nhân, mỗi lần viết thư cho người yêu, Lăng chọn giấy pelure màu xanh nhạt, ướp nước hoa thơm lừng. Lúc ngồi viết thư cho người đẹp Mộng Lân, đứa mô quấy rầy nó lúc nầy, coi chừng ăn đấm.
Với tình cảm uỷ mị đó, tôi tưởng Lăng sẽ mần thi sĩ, ai ngờ chẳng thành nhà thơ, mà thành một Võ Sư nổi tiếng.
Trong thời gian du hành trước ngày Mãn Khoá, tôi đã cùng Lê Thanh Quang ra biển Nha Trang tắm đêm, nhưng thật ra là trốn trại, lén mang theo áo quần civil, đến chỗ vắng, mặc vào, đến nhà người yêu.
Tôi lớn lên từ xứ Huế cổ kính. Con gái Huế nổi tiếng “khó”, nên “đã thương bức chết”, tuy Quốc Học Đồng Khánh nằm sát cạnh nhau, nhưng ra đường đố dám chận đường. Mãi đến lúc người ta vào học Trường Nữ Võ Tánh ở Nha Trang, mới có lần hẹn đầu tiên, được mẹ cho phép đi dạo phố một vòng. Mối tình đó thiên hạ trong Đại Đội đều biết, vì cũng như bạn Quang hay Lăng, trên bàn học trong phòng ngủ, đứa nào cũng có chưng hình người yêu.
Một Không Quân đào hoa, hiện trụ trì Website Khoá, cũng vướng một mối tình với một cô ở ấp Cô Giang, trong buổi học Chiến Thuật, thời trên vai còn mang khẩu Garant M1. Nhưng đã kéo dài thương nhớ cho mãi đến hôm nay. Gây bao sóng gió cho bạn hữu!
Một bạn nữa, tuy có cái tên là Sắt, nhưng tâm hồn mềm yếu, chan chứa tình cảm, làm thơ rất hay. Sắt ơi, lần gặp thăm bạn trong quận Thủ Đức, bạn mặc xà lỏn đứng dạy Anh Văn cho mấy người muốn đi Mỹ, bảng đen là bức vách tường loang lổ. Chúng mình lúc đó nhìn nhau trào máu họng vì Quận Đường ngày nào, nay bọn Mán vào biến thành:
Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái.
Học trò năm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.
Bạn không khác gì thi hào Cao Bá Quát lúc bị đi đày.
Đời quả thật vô thường, có ai ngờ bạn Văn Cung không ăn thịt của chúng mình, nay lại trở thành một thi bá. Cũng không ai ngờ Bành Tổ Trần Văn Bá cho ra sách Hồi Ký.
Nhưng có lẻ mùi mẫn nhất, là mối tình của Lê Ngọc Quỳnh. Quỳnh lấy biệt hiệu là Ái Phượng Liên, chứng tỏ tình sâu đậm mức nào. Không rõ mối tình đó kết thúc ra sao?
Khoá chúng ta có rất nhiều nhà thơ, ngoài Hà Ly Mạc họ Võ, sau nầy thành Hiệp Sĩ Mù nghe gió kiếm, chúng ta còn có Sương Mặc Lam Nguyễn Duy Sự. Tôi và Sự cùng dốt toán, nên giờ thầy Phụng hay thầy Ích, Sự ngồi làm thơ rồi chuyễn cho tôi xem, tôi thuộc thơ Sự thì nhiều, còn cosin colog gì đều theo gió bay ra ngoài cửa lớp ráo trọi.
Còn một bạn, tầm ngầm mà đấm chết trâu, đó là bạn già Dương Xuân Bằng. Trong khi phần đông anh em trong Khoá còn “trinh nguyên”, thì “Bắc Đẩu” Dương đã có một đàn con ở hậu phương.
Ngoài lãnh vực văn thơ, trong hội hoạ chúng ta cũng có một Lê Huy Cự có tài hoạ chân dung, bức hình chị Cự nó trưng trên bàn thờ, do chính tay Cự vẽ, sống động như thật. Bạn người nhái Hồ Văn Xuân, thực hiện khung mẫu Cổng Nam Quan ngày nào để dàn dựng trong các buổi Đại Hội, đứng cạnh chụp hình, cứ y như về thăm Trường. Xuân còn có vài tác phẩm về Giáo Hội La Mã mang qua trưng bày ở Pháp.
Sáng nay trời Houston thật lạnh, co ro nhớ lại cái lạnh Đà lạt thuở nào, nhưng lòng bỗng thấy ấm lại khi nhớ về bạn hữu đồng Khoá ngày nào.
Trong mắt người đẹp Đà lạt, đặc biệt các cô Couvent Des Oiseaux hay Bùi Thị Xuân, thì những cặp Alpha đỏ trên vai các chàng trai hiên ngang, đã cuốn hút những ánh mắt chiêm ngưỡng với bao tâm sự thầm kín. Có thể còn rất nhiều chuyện tình “Lan và Điệp” khác, có chuyện đành “thương hoài ngàn năm”, nhưng cũng có chuyện có kết quả “ răng long đầu bạc”.