Bạn Phạm hữu Đức qua đời tại Nam CA vào ngày 17/8/2016

PHÂN ƯU

 

Được tin buồn,

Bạn PHẠM HỮU ĐỨC

(CSVSQ K.16/TVBQGVN)

Pháp danh: QUẢNG TÂM AN

Vừa qua đời tại Westminster, Nam Cali vào ngày 17/8/2016

Hưởng thọ 80 tuổi

Toàn thể các CSVSQ K.16/TVBQGVN xin chia buồn cùng chị Đức và tang quyến.

Kính nguyện cầu hương linh bạn Đức sớm tiêu diêu nơi miền cực lạc.

Nguyễn Anh

Truyền thông K.16/TVBQGVN

 

Bạn Trần tế Đường qua đời vào ngày 30/7/2016 tại Nam CA

PHÂN ƯU

Được tin buồn,

Bạn    TRẦN TẾ ĐƯỜNG

(CSVSQ K.16/TVBQGVN)

Vừa qua đời vào ngày 30/7/2016 tại Nam California

Hưởng thọ 81 tuổi

Toàn thể các bạn K.16/TVBQGVN xin chia buồn cùng chị Đường và tang quyến.

Kính nguyện cầu hương linh bạn Đường sớm tiêu diêu nơi miền cực lạc

Nguyễn-Anh

Truyền thông K.16/TVBQGVN

 

 

Tin buồn bạn Vũ thái thanh Hoa qua đời

                                                 PHÂN ƯU

Được tin buồn ,

                              Bạn  VŨ THÁI THANH HOA

                                     (VŨ THÁI MICHAEL)

                                   CSVSQ K.16/TVBQGVN

              Vừa qua đời tại Thủ Đức, Việt Nam vào ngày 17/5/2016

                                          Hưởng thọ 78 tuổi

Toàn thể các CSVSQ K.16/TVBQGVN xin chia buồn cùng chị Hoa và tang quyến.

           Kính nguyện cầu hương linh anh Hoa sớm tiêu diêu nơi miền cực lạc

 

                                               Nguyễn-Anh

                               Truyền thông k.16/TVBQGVN

 

 

Tin buồn bạn Nguyễn như Phú qua đời

NNPhu

Tin buồn bạn Nguyễn nhựt Châu qua đời

NNChaub

Niềm tin tôn giáo của Nguyễn cửu Nhồng

Bạn Hiển, cùng các bạn già của tôi,
Có người khuyên không nên đem hai vấn đề nhạy cảm ra bàn, là Tôn Giáo và Chánh Trị. Điều nầy cũng dễ hiểu, chúng ta thường mang kính màu của tôn giáo mình khi nhìn sự việc. Hôm nay tôi sẽ có gắng nhìn sự việc qua mắt trần (không kính), để tán dốc đôi điều.
Tôi thích thú vì bạn: Sẽ chọn niềm vui vào niềm tin Tôn Giáo. Đó cũng chính niềm vui của tất cả những ai:
Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Với thiên hạ ta gặp hàng ngày, họ tốt hay xấu với ta, có sao đâu? Vì không bạn nầy, có bạn khác. Vả lại, họ có ăn đời ở kiếp với ta đâu. Tuy chung trên một chuyến tàu, nhưng đến ga mình, ai nấy đều chia tay xuống, họ có đi chung với ta lâu đâu? Dù chỉ là thoáng chốc, nhưng ta vẫn bâng khuâng.
Phân trần hai chữ
Có và không.
Được mất hơn thua
Ý tại lòng.
Một phút đi rồi
Khi nhắm mắt,
Có còn đọng lại
Chút gì không?

Bây giờ bàn chuyện:
Bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Thế nào là người thiện tâm.
Theo tôi, người thiện tâm, giống như ông già lượm rác bạn vừa gặp đó, lặng lẽ làm, khác với người “trùm mền hô khẩu hiệu “họ chỉ nhìn thấy cái sai người khác, không thấy có đống rác trên đầu mình”.
Thiện tâm là luôn luôn nghĩ tốt, nghĩ đúng, nghĩ thiện. Do đó, họ làm tốt, làm đúng, làm thiện. Nhất là nói tốt, nói đúng, nói thiện. Những người như vậy, tâm trí họ luôn bình an, thư thái, yêu người và yêu đời.
Lương tâm là tòa án công bằng nhất. Anh có thể dối thiên hạ, nhưng không ai dối nỗi lương tâm mình.
Người Thiện tâm ban đầu là người có ý tưởng tốt, từ ý tưởng tốt, họ sẽ có hành vi đẹp. Hành vi đẹp cho họ thói quen sống bao dung vị tha. Chính thói quen vị tha đó, tạo nên con người có tính cách cao thượng. Và tính cách đó cũng chính là số phận họ.
Và bạn Hiển có công nhận với tôi, với những ai, chỉ cầu nguyện “xin cha cho chúng con rày hằng ngày dùng đũ, và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, họ sống thảnh thơi, thoải mái hơn những ai gào thét “xóa hết bót đồn, tiêu diệt hết bè lũ xâm lược …” không?
Ngồi hưỡn, định cà kê cho vui, thôi thì, có gì không phải, rườm tai, xin đánh cho hai chữ đại xá. Cám ơn.

Quê hương của Nguyễn cửu Nhồng

QUE HUONG

Tôi cầm tinh con Cọp, sinh năm Mậu Dần, tại Huế, trong một ngôi làng tên Xuân Hòa thuộc huyện Hương Thủy. Dù sống ở vùng xôi đậu, tôi có một thời thơ ấu khá êm đềm, thế hệ trẻ chúng tôi được cắp sách đến trường, ngoài kiến thức khoa học, chúng tôi còn được giảng dạy về Công Dân Giáo Dục, về nguồn cội Rồng Tiên, về Lịch Sử vua Hùng dựng nước; để thành một người biết yêu thương đất nước, giống nòi.
Huế, trong ký ức tôi, vùng đất an bình với dòng Hương êm đềm, con sông chỉ hung dữ mỗi năm vào ngày mưa lũ, còn lại, thật thơ mộng với dòng nước chảy thật chậm, thật lặng lờ sâu lắng, như những tiếng “dạ thưa” ngọt lịm mê say.

Làng quê tôi, nằm ven dòng sông Như Ý, một nhánh của Hương Giang. Những ngày từ quê lên học tại Quốc Học, tôi thường đạp xe theo mấy O bên Đồng Khánh, thuở ấy, dù thương cách mấy, cũng không dám đi song đôi, mà chỉ lẽo đẽo theo sau. Tuổi thơ tôi lọt lưới tình yêu lúc nào không rõ, chỉ biết mỗi lần gặp ánh mắt nhau, tôi bỗng gần như quên thở vì:

Mắt em là một dòng sông,
Thuyền anh chết ngộp trong lòng mắt em.
(không biết thơ ai, thấy hay cuỗm đại)

Trước khi tình nguyện vào Võ Bị Đà Lạt, tôi vào thăm người bạn thân, Nguyễn Văn Lộc, sau nầy anh gia nhập vào Khóa Bảo Bình Trường Hải Quân Nha Trang. Lộc sai cô em gái, tên Quyến, mà tôi thường lẽo đẽo đạp xe theo trên đường đi học, gọt mấy trái thu đủ sau vườn đãi tôi, lợi dụng lúc chỉ có hai đứa, tôi thu hết can đảm, hỏi: Mai anh đi rồi, hi vọng còn dịp gặp nhau không?
Quyến cúi đầu nói nhỏ “Em không biết”.
Vậy mà năm sau, được tin cô ta vào học tại Võ Tánh, Nha Trang. Tôi xin phép gia đình được viết thư thăm hỏi. Và trong dịp du hành trước ngày Mãn Khóa, tôi và Lê Thanh Quang, nó cũng có người yêu ở đây, và cũng sau nầy thành chị Quang; hai đứa trốn trại, cùng người yêu đi dạo phố. Dịp đầu tiên, tôi có một bức hình chung với người yêu, để thay lời thề non hẹn biển. Tình yêu chúng tôi thuở đó, chơn chất và chung thủy như vậy đó.
Ra Trường, tôi chọn Sư Đoàn I ở Huế. Lúc nầy chiến sự bắt đầu sôi động, hai gia đình quen thân lâu nay, dự tính ngày cưới, và bảo tôi đang ở A-Lưới, xin phép về. Vị Tiểu Đoàn Trưởng vui vẻ chấp thuận và can thiệp ngày đó sẽ xin chuyến máy bay Cesna chở thư, đưa tôi về sân bay Tây Lộc Huế. Không ngờ vì sương mù, gần trưa Cesna mới lên được, nên tôi về đến nhà thì đám rước dâu đã đi, vội thay bộ đồ trận, khoác chiếc áo đen chú rể vào, ba chân bốn cẳng chạy. May quá, nhà gái vừa chấp thuận cho cưới vắng mặt rể, thì chú rể ập vào. Sau ngày hợp hôn đúng bảy hôm, tôi lại lên A-Lưới gánh chịu những trận pháo kích, chia sẻ những hiểm nguy với đồng đội. Tôi tạm ngưng chuyện riêng tư ở đây, để chúng ta cùng quay lại tìm nguyên nhân cuộc chiến đấu mất còn, mà tôi cùng đồng đội đang gánh chịu.

Lãnh hai trái bom nguyên tử, Nhật phải đầu hàng Mỹ, dẫn đến bại trận của phe Trục (Nhật-Đức-Ý). Lợi dụng cơ hội, với sự hỗ trợ của Khối Cọng, Việt Minh đã dùng bạo lực cướp chính quyền. Vì Việt Nam, sau khi Nhật đảo chánh Pháp, ngày 11-3-1945, vua Bảo Đại đã tuyên bố độc lập, hủy bỏ mọi hiệp ước ký với Pháp. Ngày 17-4-1945, chính phủ Trần Trọng Kim trình danh sách nội các, Bảo Đại ký và ra mắt quốc dân 2 ngày sau đó.
Tướng Cọng Sản Hoàng Cầm cho biết, cuộc mít tinh 17-8-45 do Tổng Hội Sinh Viên thân Nhật tổ chức, bị ủy ban Khởi Nghĩa thân Cọng biến thành khởi nghĩa cướp chính quyền. Họ len vào kỳ đài, kéo cờ “quẻ ly” xuống, kéo cờ đỏ sao vàng lên. Qua ngày 19-8, họ kéo đến cướp Phủ Khâm Sai. Họ không có chính danh, chỉ dùng bạo lực cướp. Trong khi, với chính phủ Trần Trọng Kim, ta đã được quốc tế thừa nhận độc lập từ thuộc địa Pháp. Ta đã có dự thảo Cải Tổ Hành Chánh do luật gia Đinh Xuân Quảng viết, biết đâu ta cũng vươn lên như nước Nhật. Nhưng khối Cọng đã hậu thuẫn cho Việt Minh, cướp chính quyền, đưa nước ta đi vào một khúc quành lịch sử đầy hận thù giữa hai phe Quốc Cọng.
Lúc nầy, chế độ thực dân tới thời cáo chung, Anh trao trả độc lập cho các thuộc địa, Pháp còn cố bám víu một số quyền lợi, nên mở chiến dịch tại Điện Biên, dụ đại quân Việt Minh vào đó, sẽ bất ngờ cho nhảy dù để tiêu diệt. Không ngờ Cọng Sản tương kế tựu kế, được Tàu trang bị hàng ngàn pháo binh cỡ lớn, phục quanh trên lòng chảo. Pháp nhảy dù xuống, xem như vào rọ.
Sau trận Điện Biên Phủ, để tiến đến hòa bình. Hội Nghị Quốc Tế, thực chất hai phe Việt Minh và Pháp, vì Ngoại Trưởng Trần Văn Đổ, theo lệnh Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, không tán thành chuyện chia đôi đất nước, đã không ký. Hội Nghị nhóm họp tại Genève 1954, cắt đôi nước ta ở Vỹ Tuyến 17. Quốc Tế giám sát đình chiến buộc Việt Minh rút hết quân ra Bắc, mang theo những người tập kết. Mỹ giúp di tản hơn một triệu người di cư vào Nam. Dân miền Nam, những con người nhân hậu, có dịp chia cơm xẻ với đồng bào mình. Pháp phải rút khỏi Đông Dương. Trao trả quyền tự trị cho chính phủ Bảo Đại, để đến tháng 7 năm 56, hai Miền tổ chức tuyển cử.

Cựu hoàng Bảo Đại đang ở Pháp, giao quyền cho Ngô Đình Diệm. Ông Diệm ra lệnh toàn quốc treo cờ rũ để phản đối Hiệp Định Chia Đôi Đất Nước, đồng thời cải tổ guồng máy hành chính, chính thức dành quyền tự trị từ tay thực dân Pháp.
Nhờ đình chiến, phe Cọng, lúc nầy mang tên Việt Minh, đã chôn dấu vũ khí và gài lại người nằm vùng, họ tin với dân số vượt trội ở miền Bắc, nhất là hệ thống tuyên truyền, sẽ dễ dàng thắng phiếu miền Nam nếu có bầu cử.
Dự đoán sẽ không có bầu cử, Miền Bắc quyết chiếm miền Nam bằng võ lực, họ bắt đầu xây dựng một xã hội chuyên chế bằng đấu tố, cải cách ruộng đất và xây dựng quân đội hùng mạnh. Miền Nam, sau cuộc Trưng Cầu Dân Ý, đã bỏ phiếu truất phế Bảo Đại, bầu Ngô Đình Diệm làm Tổng Thống. Được Mỹ Viện Trợ, ông Diệm chú tâm vào cải tổ kinh tế, lập khu trù mật, xây dựng ấp Chiến Lược, nên dân được sống yên vui một thời gian. Mãi năm 63, Việt Cọng xuất đầu lộ diện với danh xưng “Mặt Trận Giải Phóng”, đưa quân từ Bắc vào, phối hợp với số nằm vùng, quậy phá khắp nơi.
Cuộc nội chiến giữa hai phe Quốc Cọng lại tiếp diễn, miền Bắc với chi viện của Khối Cọng, quyết nuốt chửng Miền Nam. Để ngăn chặn làn sóng đỏ, Mỹ giúp Miền Nam cải tổ kinh tế, xây dựng một xã hội phồn vinh, tự do, dân chủ. Tuy nhiên thấy Miền Nam khó đương đầu với cuồng vọng của Khối Cọng, Mỹ tìm cách đưa quân tham chiến. Ban đầu họ đưa cố vấn vào giúp, cho xây dựng ngôi Trường Võ Bị Quốc Gia, lớn nhất Đông Nam Á tại Đà Lạt, chương trình văn hóa và quân sự với thời gian đào luyện là 4 năm. Tôi may mắn được thu nhận vào Khóa 16, Khóa đầu tiên theo chương trình mới khai giảng năm 1959. Tiếc là đến năm 63, Việt Minh thành lập Mặt Trận Giải Phóng, bắt đầu quậy phá khắp nơi. Khóa 16 chúng tôi cấp tốc được tung ra chiến trường để kịp đối phó. Một số Khóa kế cũng đành ra trường trước thời gian để đáp ứng nhu cầu chiến sự.
Mậu Thân 68, Mùa Hè Đỏ Lửa 72, và tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị đã gây thương vong lớn cho Bắc quân. Nhờ hậu phương Nga và Trung Quốc chi viện tối đa, Việt Cọng tiếp tục dùng chiến thuật biển người, như những thiêu thân xông vào lửa đạn, gây tổn thất đáng kể cho Quân Lực Cọng Hòa và Đồng Minh.

Mỹ là quốc gia tôn trọng mạng sống con người, khi thấy lính mình chết quá nhiều, phong trào phản chiến bùng nổ dữ dội khắp nơi. Không thể để sa lầy tại Đông Dương, dưới áp lực của Lưỡng Viện Quốc Hội, Mỹ tìm cách rút chân ra khỏi Việt Nam.
Lúc nầy, quân đội miền Bắc, được Nga Tàu yểm trợ dồi dào cả lương thực lẫn vũ khí, xẻ dọc Trường Sơn thành đường mòn Hồ Chí Minh, trùng trùng điệp điệp kéo vào, nhưng họ chối bay chối biến việc xâm nhập. Mặt chai mày đá tuyên bố đó là nhân dân miền Nam nổi dậy. Thương vong hai phe càng ngày càng tăng vọt khốc liệt.
Pháp và Mỹ, hai quốc gia tuy bằng mặt, nhưng không bằng lòng, Pháp còn hận chuyện bị Mỹ hất chân ra khỏi Đông Dương, nên tình nguyện đứng ra tổ chức việc thương thảo đình chiến. Sau những chuyến đi đêm, từ tháng 5 năm 1968, đến tháng giêng 1973. Hai tên đầu sỏ chung lãnh Nobel Hòa Bình năm đó, là Lê Đức Thọ và Kissinger, đã qua tận Bắc Kinh, đi đêm mật ước với nhau để bán đứng miền Nam. Chuyện bốn bên cùng thương thảo, chỉ là đóng kịch. Có lẻ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cảm nhận được điều đó, nên phản đối, nhưng cuối cùng đành bó tay. Quả nhiên Hiệp Định Paris chưa kịp khô mực, trong lúc Mỹ rút hết quân, cắt đứt mọi viện trợ, thì Cọng Quân mang xe tăng đại pháo, rần rộ xâm nhập đánh chiếm Miền Nam.
Dân miền Nam vốn hiền hòa, đã căm hận khi thấy Sài Gòn yêu quý đổi tên quê một cục là: Thành Phố Hồ Chí Minh. Tên nước lại lòng thòng kỳ cục hơn:Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. VC lật lọng, quịt đàn anh Trung Quốc để chào đón Liên Xô, bị Đặng Tiểu Bình cho một bài học, phá nát 6 tỉnh biên giới, hết núi liền núi, sông liền sông. Vì cùng tổn thất nặng, Tàu còn sợ người bạn Liên Sô sau lưng, nên rút về, nhưng rạn nứt Nga Tàu cũng manh nha từ đó.
Mỹ rút khỏi miền Nam, nhưng dấu ấn tự do dân chủ còn ở lại đậm nét, có người còn cho chính miền Nam đã giải phóng miền Bắc, khi họ nhận thức được, là miền Nam có cuộc sống nhân bản, tiên tiến hơn hẳn miền Bắc. Dương Thu Hương đã ngồi xệp xuống lề đường Sài Gòn để khóc khi thấy mọi người bị Cọng Sản dối gạt để cướp đi bao xương máu dân Việt một cách đau đớn. Một chế độ tàn bạo, gian trá, đã chiến thắng một chế độ nhân bản, văn minh tiến bộ.
Sau 75, có người thấy Nhạc Sĩ Văn Vỹ, bỏ đàn cò, hành nghề xe ôm. Vì lúc nầy,mọi người đều sáng mắt chứ không riêng gì Văn Vỹ. Dân Miền Nam tìm dân Bắc để nhận Họ. Còn dân Bắc vào Nam để tìm “Hàng”.

Sau khi hàng triệu Quân Cán Chính miền Nam bị đày ải trong các Nhà Tù mệnh danh là Trại Cải Tạo. Nhất là vì không thể chịu nổi hà khắc của Cọng Sản, người dân làm một cuộc trốn chạy vỹ đại, có người cho là nếu các cột đèn có chân, chắc cũng bỏ đi. Hàng triệu người bỏ thây trên biển cả, đã đánh động lương tâm nhân loại. Các nước trong Thế Giới Tự Do phải can thiệp để cứu. Phước đức, Mỹ nhận ra được trách nhiệm, đã tình nguyện nhận lãnh gia đình những người một thời là chiến hữu của họ.
Người Miền Nam trước đây, sống trong xã hội khai phóng, nhân bản. Với con tim nhân ái, đã dang tay đón nhận người anh em phương Bắc, trong cuộc di cư vỹ đại năm 54. Nay họ được Nước Mỹ cưu mang lại, họ “gieo nhân lành, nay gặt quả ngọt”. Nhưng cũng phải nói, chúng ta đã vui vẻ hòa nhập với xã hội mới, để xây dựng chốn tạm dung thành một xã hội đa văn hóa, giàu mạnh.
Đất nước Mỹ lại không phải của riêng ai, đây là một quốc gia đa chủng, đất hứa của những người có lý tưởng, yêu chuộng tự do, công bằng, bác ái. Xưa kia, các con tôi từng bị chính quyền Cách Mạng phân biệt đối xử, đã có thời cảm thấy lưu vong, phải sống tha phương ngay trên quê hương mình. Chúng từng thấy cha mẹ chúng chịu những “đòn thù” của kẻ tự cho là đỉnh cao trí tuệ, nhưng cư xử với đồng bào mình bằng “lòng hờn căm cao ngút trời” (lời ca trong bản Giải Phóng Miền Nam).
Bộ máy tuyên truyền Việt Cọng còn trưng bày Viện Bảo Tàng tội ác Mỹ Ngụy. Họ kể và trưng bày những đày ải của Thực Dân Pháp ở nhà tù Lao Bảo, ở đảo Phú Quốc v…v…, Họ quên rờ lên gáy mình, vì những nơi đang giam giữ đồng bào họ, còn kinh khủng hơn Thực Dân Pháp hay đế quốc Mỹ đã làm. Họ hèn nhát bắn chết Đại Tá Đặng Phương Thành Khóa 16, rồi vu tội trốn chạy. Họlưu dung chị Đặng Thiên Thuần (dung không có dấu nặng), một từ cách mạng dùng bày tỏ lòng dung thứ các nhà giáo miền Nam, lúc chưa có người thay thế), vì muốn có sổ lương thực nuôi các con, chị Thuần đã nhận lưu dung, tiếp tục đứng lớp tại Trần Hưng Đạo Đà lạt. Đau đớn thay, sổ lương thực chưa kịp nhận, chị đã chết vì mệt và đói.

Họ khoe việc chiếm Miền Nam là “chiến thắng thần thánh”, Tổng Bí Thư Lê Duẩn cho khắc chữ vàng bảng đỏ thật “hoành tráng” treo trước Đền Thờ:
Ta đánh Mỹ, là đánh cho Trung Quốc, cho Liên Xô.
Tố Hữu, đại công thần của Đảng, còn tự hào:

Ôi Việt Nam! Từ trong biển máu.
Người vươn lên như một thiên thần.

Ông nịnh Liên Xô mà không cảm thấy thẹn với con cháu:

Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Sta-lin!
Hay tỏ lòng kính yêu Mao hơn cả tình dành cho cha mẹ hay vợ chồng:
Thương cha thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười.
Nhà thơ tình lãng mạn Xuân Diệu, sợ ghép tiểu tư sản, cũng sắt máu:

Thắp đuốc lên cho sáng khắp đường,
Thắp đuốc cho sáng đình làng hôm nay,
Lôi cổ bọn chúng ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đọa đầy chết thôi!

Nhà văn Trần Đĩnh, trong Đèn Cù, đã kể:
Chu Văn Biên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất ở Nghệ Tỉnh, đã bắc ghế ngồi trên thềm cao, chỉ mặt mẹ đẻ đứng dưới sân, gằn giọng:
“Tao với mi không mẹ không con, mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi mà mi thì sẽ nhất định chống lại.”
Bà mẹ cắn lưỡi không chết, ít lâu sau nhảy giếng tự tử. Nhờ thành tích giết mẹ đó, Chu Văn Biên được Đảng ban chức Thứ Trưởng Bộ nông nghiệp.!
Tài nịnh bợ và lời dối trá, chỉ có những kẻ da mặt dày như da trâu, mới nói mà không đỏ mặt. Cũng như sự tàn ác với chính đồng bào mình. Vượt xa bọn Phát Xít Nhật.
Tuy nhiên, dưới chế độ sắt máu man rợ đó, vẫn có những người liêm chính, đáng trọng như Phan Khôi, vẫn có những viên ngọc lẫn trong bùn nhơ, như Phùng Quán, Hữu Loan.
Phùng Quán trong Lời Mẹ dặn, đã ghi khắc:

Yêu ai cứ bảo là yêu.
Ghét ai cứ bảo là ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
….
Tôi muốn làm nhà văn chân thật trọn đời,
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi.
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã.
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
Còn Hữu Loan. Một nhà thơ nổi tiếng, đã tốt nghiệp tú tài Pháp thời đó. Trong cải cách ruộng đất, họ chôn sống, tiêu diệt hết địa chủ, mọi người tránh xa con cái họ nếu không muốn liên lụy, thế mà Hữu Loan, đã tìm cô Phạm Thị Nhu, con gái một gia đình địa chủ. Gia đình và cha mẹ cô đã bị chôn sống, cho trâu bừa qua cho chết. Cô Nhu 17 tuổi bị đuổi khỏi nhà, ngày mót khoai sống ăn, tối chui vào miếu hoang ngủ. Hữu Loan tìm mang cô về cưới làm vợ.

Ngày nay, mạng lưới tuyên truyền cùng bưng bít sự thật, đã mất tác dụng trong thế giới chúng ta. Trận Hải Chiến hào hùng với Tàu Cọng năm 74 để giữ đảo Trường Sa của Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa, không còn dấu diếm được ai. Những người chung chăn với họ, như Vũ Thư Hiện, Bùi Tín, Dương Thu Hương, và sau nầy là Trần Đĩnh, đã cho thế giới thấy bộ mặt thật nham nhở của chế độ Cọng Sản.
Hôm nay, ngồi hồi tưởng để viết lại những chuyện xưa, với lòng thanh thản, buồn cười nhiều hơn là vướng mắc hận thù. Tôi muốn con cháu mình biết rõ tại sao chúng bỏ nước qua đây? Cha mẹ chúng có phải là kẻ từng có tội ác với dân nhân mình, như Cọng Sản nhồi nhét vào đầu óc thế hệ chúng hay không? Hay chỉ là những nạn nhân của một chủ nghĩa Cọng Sản ngoại lai, và guồng máy tuyên truyền láo khoét?
Vì không thể sống chung với chế độ phi nhân, phải đành đứt ruột rời bỏ Quê Hương bản quán sang đây. Hi vọng một ngày nào đó đất nước không còn Cọng Sản. Có thể tôi sẽ tìm về. Vì tình yêu quê hương, tình cảm dành cho nơi chôn nhau cắt rún, nơi có mồ mả cha ông, nơi có bà con quyến thuộc, đã trở thành dòng máu chảy trong huyết quản.
Nhưng các con tôi có trở về xây dựng Quê Hương hay không, thì tùy chúng. Tôi chỉ mong chúng, sau khi đọc những dòng nầy, có thêm hiểu biết và nhận thức, để kề vai với người bản xứ, xây dựng một xã hội đa văn hóa. Một xã hội có công bằng, có tự do, dân chủ. Chúng sẽ ngẩng cao đầu để sống trong niềm tự hào của những con người có phẩm giá, biết trọng nhân cách, biết thương yêu mọi người.
Tục ngữ ta có câu: “đất lành thì chim đậu”. Chúng sẽ có cuộc sống hạnh phúc trong quê hương mới.
Nguyễn Cửu Nhồng.
January-2015.

Phi đoàn221 Trực thăng

Sep 2 at 5:38 AM

Phi Đoàn 221 Trực Thăng
Người kể Nguyễn Văn Ức
________________________________________
Đôi Dòng Tiểu Sử
– 11-1959: Gia nhập Khoá 16 Trường VBQGVN.
– 12-1962: Khi tốt nghiệp, định chọn TQLC, nhưng lại được tuyển về Quân Chủng Không Quân.
– 4-1963: Học Hoa Tiêu Trực Thăng tại Hoa Kỳ.
– 5-1964: Tốt nghiệp về phục vụ tại Phi Đoàn 217, Không Đoàn 33 Chiến Thuật, sau này di chuyển về Không Đoàn 74 Chiến Thuật tại Cần Thơ.
– 10-1969: Sĩ quan liên lạc Không Quân tại Hoa Kỳ.
– 1-1971: Phi Đoàn Trưởng PĐ 221, Không Đoàn 43 Chiến Thuật, thuộc Sư Đoàn 3 KQ tại Biên Hoà.
– 1-1973: Không Đoàn Phó KĐ 64 Chiến Thuật, thuoộc Sư Đoàn 4 KQ tại Cần Thơ.
– Tham gia các sinh hoạt cộng đồng, đặc biệt ở các hội đoàn cựu quân nhân tại Orange County, California từ tháng 4-1975 tới nay.

Cuộc đời binh nghiệp của tôi trải qua nhiều giai đoạn, nhưng có lẽ giai đoạn khó khăn nhất, nhưng mang nhiều ý nghĩa nhất là khi tôi nhận trách nhiệm yểm trợ cho mặt trận An Lộc vào năm 1972.
Tôi được thuyên chuyển về SĐ 3 KQ tại Biên Hoà và là phi đoàn trưởng 221 trực thăng từ đầu năm 1971. Nhờ thế, tôi đã thu thập được nhiều kinh nghiệm về hành quân trực thăng vận và quen thuộc với điạ thế vùng này. Đầu năm 1972, khi An Lộc bị VC tấn công và mặt trận trở nên khốc liệt, phi đoàn 221, là một trong 3 phi đoàn trực thăng của Sư Đoàn 3 KQ, đã được chỉ định yểm trợ trực tiếp cho quân bạn đang chiến đấu tại đây.
Trong một buổi họp tham mưu với Tư Lệnh Sư Đoàn 3 KQ tại Bộ Chỉ Huy Tiền Phương QĐ III tại Lai Khê, Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 KQ, cùng Đại Tá Nguyễn Văn Tường, biệt danh Tường “mực” (vì da của ông khá đen nên đơn vị gọi ông là “mực”), Chuẩn Tướng Tính đã ra lệnh cho tôi,
– Anh chiụ trách nhiệm chỉ huy trực thăng, yểm trợ cho mặt trận An Lộc.
Tôi đã tuân hành sự chỉ định này và thực hiện ngay các nhiệm vụ cần thiết. Khi cuộc chiến bắt đầu xảy ra, tôi thường bay C&C ra và vào An Lộc. Tôi đã chỉ huy phi đoàn trực thăng 221 đổ LĐ 81 Biệt Kích xuống Đồi Gió, (một ngọn đồi ở phiá Đông Nam, ngay sát thị xã An Lộc.) vào khoảng ngày 7 hay 8 tháng 4-72. Ngày hôm sau, tôi lại cùng phi đoàn chuyển quân tiếp viện của Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù vào cùng địa điểm. Khi đang bay, Đại tá Lê quang Lưỡng đã nói với tôi,
– Đến chuyến cuối cùng, anh chở tôi về Chơn Thành để tôi đi với “slick” (trực thăng chuyển quân) lên.
– Đại tá muốn đáp sau đơn vị cuối cùng phải không? Tôi hỏi.
– Anh dám đáp không? Đại Tá Lưỡng hỏi.
Tôi nói qua máy truyền tin (intercome),
– Thật sự khi bay C&C, mình chấp nhận đưa lưng cho nguời ta bắn. Trực thăng chở quân vào thường bay “raise mode”, sát ngọn cây để tự bảo vệ, nên đã hạn chế tầm quan sát của đối phương. Bay với cao độ như vậy, trực thăng vừa xuất hiện đã biến mất khỏi tầm nhìn của địch. Bọn chúng khó phản ứng vì không đủ thời gian. Ngược lại, C&C luôn bay ở cao độ từ 2500 đến 3000 bộ, nên dễ bị bắn lắm.
– Vậy thì thôi. Tôi sẽ theo chuyến cuối cùng xuống Đồi Gió.
Các đợt chuyển quân cứ thế, đến rồi đi, rồi quay trở lại nhiều lần trực thăng vận mới xong toàn bộ quân số của cả lữ đoàn. Cuối cùng, tôi thả Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn ND cùng với Đại tá Lưỡng, và Bùi Quyền, Trưởng Ban 3 Lữ Đoàn, xuống bãi đáp đang mịt mù đất và khói bụi. (Anh Bùi Quyền vốn là người bạn cùng khoá của tôi.) Trên đường vào An Lộc, tôi đã cho anh Quyền mượn một headset để có thể nghe được cuộc liên lạc giữa tôi và các đơn vị bộ binh, giữa Không Quân, và để có thể nhận lịnh trực tiếp từ vị Lữ Đoàn Trưởng. Cuối cùng, cuộc đổ quân tiếp ứng đã hoàn tất trong giai đoạn đầu của cuộc chiến.
Vào trung tuần tháng 4-72, khoảng một tuần sau, Phi Đoàn 221 lại chịu trách nhiệm trực thăng vận Trung Đoàn 8, SĐ 5 BB từ Lai Khê vào thẳng thị xã An Lộc. Lúc này, VC đã chiếm nữa thành phố về phía Bắc, trong khi lực lượng trú phòng đang ngăn chặn chúng ở phiá Nam. Vào lúc 5 giờ chiều, phi đoàn đã trực thăng vận được 2 tiểu đoàn của trung đoàn này, nhưng vì trời mưa rất lớn nên kế hoạch đưa tiểu đoàn còn lại bị hoãn cho đến ngày hôm sau. Tôi đã ra lệnh các trực thăng ở lại Lai Khê, trong khi tôi vào thăm Tướng Lê Văn Hưng vả ở lại qua đêm. Ngày hôm sau, khi tôi trở lại Lai Khê để chuyên chở nốt tiểu đoàn cuối cùng, thì cũng là ngày VC dùng xe tăng T54 tấn công vào thành phố. (LĐ3 BĐQ đã được trực thăng vận lên An Lộc ngay từ đầu trận đánh, trước khi CS tấn chiếm cầu Cần Lê, phiá Bắc An Lộc 10 km – Ban Biên Tập.)
Ngoài ra, Phi Đoàn 221 còn chiụ trách nhiệm tiếp tế và tải thương. Mỗi lần bay như vậy, phi đoàn cho 4 chiếc slick (trực thăng), cùng 3 chiếc gunship theo để yểm trợ, thay vì 2 như thường lệ. Với hoả lực hùng mạnh của 3 chiếc gunship, và sự linh hoạt của nó, mới đủ sức áp đảo hoả lực phòng không của địch vốn rất mạnh ở đây. Tất cả bay “raise mode” (bay thấp chỉ trên ngọn cây để đối phương không thấy và không kịp bắn) từ Tân Khai lên.
Cách cho “slick” bay sát ngọn cây để tránh ít bị VC bắn, nhưng phải bay theo cùng một lộ trình ngày này qua ngày khác nên không tạo được yếu tố bất ngờ, đã bộc lộ nhiều khuyết điểm. Chúng đã nghĩ ra cách ngăn chặn đoàn trực thăng ra vào An Lộc, bằng cách bố trí người nằm trên đọt cây cao su rồi dùng súng chận bắn. Mặc dù cố gắng nhưng một số máy bay vẫn bị trúng đạn của CSBV và phi hành đoàn bị thương khá nhiều. Các trực thăng dù không bị rơi nhưng khi về đến phi trường mới biết máy bay bị trúng đạn qua những lổ thủng còn lưu lại trên thân. Tình hình đã xấu nhưng vẫn chưa phải là xấu nhất, cho đến khi có 2 chiếc bị bắn nổ trên bầu trời cùng với phi hành đoàn. Tôi đã ra lệnh ngưng thực hiện các phi vụ, để chờ lệnh của Sư Đoàn 3 KQ.
Tôi đã đề nghị với Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh QĐ III, khi ông lên thị sát mặt trận,
– Thưa Trung Tướng, với mức độ thiệt hại như vậy, mình không thể tiếp tục yểm trợ quân bạn. Sự tổn thất hàng ngày sẽ khiến chúng ta không còn phương tiện. Đề nghị Trung Tướng tìm cách khác.
– Anh có cách nào không?
– Có thể xử dụng C123, hay C130 thả dù.
Sau khi họp với ban tham mưu, ông dã đồng ý với ý kiến của tôi. Ông đã đề nghị với Bộ Tư Lệnh KQ cho xử dụng C 123 và C 130. Tiếp tế bằng loại máy bay này lại bộc lộ khuyết điểm khác. Vì phải bay cao để tránh hoả lực phòng không của VC nên tỷ lệ hàng tiếp tế cho quân bạn chỉ khoảng 50%. Đa số đã lọt vào tay VC. Do đó, các chiếc máy bay này đã bay “raise mode” để việc thả dù chính xác hơn. Vì thế các phi hành đoàn gặp khó khăn hơn. Không linh hoạt như trực thăng, các máy bay này coi như “phơi bụng” chờ CSBV dùng đủ loại súng bắn. Cuối cùng, một chiếc C123 đã bị phòng không VC bắn rơi trên An Lộc. Tôi không rõ sự tổn thất của phi hành đoàn, nhưng chắc chắn không hứa hẹn điều tốt lành. Từ đó, việc dùng trực thăng để tiếp tế gần như không thể thực hiện. Khi tình hình chiến sự tại mặt trận An Lộc trở nên nghiêm trọng, đơn vị trú phòng chỉ còn dựa vào sự yểm trợ của B52, F5, và Cobra, phần lớn của không lực Mỹ. Vì chưa triệt hạ được hệ thống phòng không của VC hoàn toàn, Cobra cũng bị tổn thất nhiều dù đã bay ở độ cao 5000, 6000 bộ.
Sau 2 tuần lễ, trong buổi thuyết trình của QĐ III cho Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân. Sau phần thuyết trình, Trung Tướng Minh, xoay qua Chuẩn Tướng Tính, nói,
– Tôi nghĩ Th/Tá Ức có kinh nghiệm thực tế, do đó giao nhiệm vụ cho Thiếu tá Ức là hợp lý.
Chính vì thế, tôi không còn cơ hội khác hơn là tận tình thực hiện nhiệm vụ của một quân nhân. Hai ba ngay sau, viên tướng cố vấn Mỹ thuộc QĐ III nói với chúng tôi,
– Đã có đến 4 chiếc trực thăng của chúng tôi (Hoa Kỳ) vào An Lộc và không bị bắn.
Chuẩn Tướng Tính đã yêu cầu tôi kiểm soát lại. Tôi ra bãi đáp sân bay Lai Khê thì thấy 4 chiếc trực thăng của Mỹ vẽ 4 vạch trắng từ lườn bên này sang bên kia. Ngoài ra, phi hành đoàn còn đội helmet trắng. Tôi đã biết rằng chúng tôi đang bị chơi xỏ.
Tôi bình tĩnh cầm tấm bản dồ nói với viên thiếu tá phi công trực thăng Hoa Kỳ,
– I heard that you led to An Lộc with your 4 helicopers anh came back without being shot? (Tôi nghe nói ông đã hướng dẫn 4 trực thăng vào An Lộc mà không bị bắn?)
– Yes, Sir.
– Show me which flight path to go. (Chỉ cho tôi đường bay.)
Ông ta chỉ con đường đi vòng lên Tống Lê Chân rồi vào An Lộc. (Lúc này căn cứ TLC đang bị vây hãm, và tất cả vùng này đang nằm dưới sự kiểm soát của CS.). Nếu tôi ngây thơ nghe ông ta thì chắc chúng tôi không còn ai để tới mục tiêu. Tôi đã nói với ông ta rằng tôi có thể bay lệch sang trái hoặc phải 500m vì không nắm chính xác đường bay, do đó có thể bị VC bắn hạ. Tôi nói thêm,
– You anh I flight on my helicopper, then show me exactly the flight path to An Lộc. (Tôi và ông cùng bay trên máy bay của tôi, rồi ông chỉ cho tôi chính xác đường vào An Lộc.)
– No, Sir. I can’t.
Cho đến nay tôi vẫn không hiểu dụng ý của phiá Mỹ khi báo cho chúng tôi biết là họ có thể vào An Lộc bằng cách riêng của họ. Tất cả máy bay của ta đều sơn màu nguỵ trang, phi hành đoàn phải dùng quân phục nguỵ trang, mũ được sơn màu nguỵ trang, thế mà các phi cơ không tránh khỏi bị bắn trong suốt đường bay. Trong khi đó, máy bay của họ sơn vạch trắng, phi công đội mũ sơn trắng. Thật là một câu truyện nực cười!
Tôi đã trở lại phòng họp và không dấu khỏi sự bực dọc khi trình bày lại vấn đề với thượng cấp.
Sau nhiều lần VC tấn công chính diện vào An Lộc bị thất bại và thiệt hại nặng, nơi đây tương đối trở nên yên tĩnh. Địch dường như bị tổn thất nhiều nên không thể mở những trận đánh lớn hơn. Khoảng cuối tháng 5, đầu tháng 6, các đơn vị trấn giữ An Lộc rất cần thêm quân để tái bổ xung, thêm đạn được, và súng ống để tái trang bị. Vì bị pháo kích và tấn công lẻ tẻ, các đơn vị của ta từng ngày bị thiệt hại dần, như thương binh đang từ từ chảy máu mà không có dụng cụ cầm giữ. Họ cần được tiếp tế và tăng cường quân số mau lẹ.
Khoảng đầu tháng 6-1972, tôi được Trung Tướng Tư Lệnh QĐ III mời họp để bàn về việc trực thăng Trung Đoàn 15 của Sư Đoàn 9 BB và Tiểu Đoàn 6 ND vào An Lộc để tăng cường cho mặt trận. Tôi đã trình bày với Tung Tướng TL/QĐ III,
– Nếu Trung Tướng đồng ý đổ quân theo đề nghị của tôi, tôi có thể đổ hết Tr/Đ15 và TĐ6 ND, với hy vọng thiệt hại tối thiểu.
Cầm bản đồ, tôi đã kín đáo trình bày kế hoạch được phác hoạ trong đầu với riêng ông. Sở dĩ tôi làm như vậy là để tránh những tin tức hành quân có thể bị lọt ra ngoài, khiến VC có cơ hội chận đánh. Sau khi nghe tôi thuyết trình, ông nói,
– Tôi đồng ý.
Quay sang các đơn vị trưởng bộ binh, tôi nói,
– Vào 6 giờ sáng mai, trước khi trực thăng vận, tôi sẽ thuyết trình với quý vị điạ điểm và cách đổ quân.
Sáng hôm sau, tôi đã trình bày cùng Trung Tá Cần, Trung Đoàn Trưởng TĐ 15, và vị TĐT/TĐ6 Nhảy Dù,
– Đây là một cuộc đổ quân mà trực thăng không đáp. Máy bay chỉ “hoover” (bay là là) cách mặt đất khoảng 1m, rồi các đơn vị bộ binh tuần tự nhảy xuống, vì điạ điểm này là một khu rừng chồi nên máy bay không thể đáp thẳng xuống đất.
Tôi đã bay C&C từng ngày ra vào An Lộc nên gần như thuộc lòng điạ thế nơi đây. Một khu vực nằm bên trái Tân Khai, cách An Lộc 3 km về phiá Nam, bên trái QL 13, là một khu rừng thưa sát rừng cao su, diện tích khá lớn. Khu vực này không tiện cho trực thăng đổ quân, nhưng lại rất thuận lợi cho ta nếu thực hiện ý định này, vì VC không nghi ngờ nên chỉ bố trí vài chốt nhằm ngăn chặn và báo động nếu các đơn vị của ta muốn di chuyển về phiá Nam (hướng Saigon).
(SĐ3 KQ có 3 Không Đoàn Chiến Thuật, 1 Không Đoàn Yểm Cứ lo bảo vệ an ninh, và Không Đoàn Kỹ Thuật.
– 3 Không Đoàn CT gồm: Không Đoàn 43 CT, Không Đoàn 23 CT (khu trục), và 1 Không Đoàn 63 CT (F5).
– Không Đoàn 43 CT gồm các Phi Đoàn 221 UH1 Trực Thăng, 223 UH1 Trực Thăng, 231 UH1 Trực Thăng, và Phi Đoàn 237 CH 47 Chinook. Sau 1972, Không Đoàn này có thêm 2 Phi Đoàn Trực Thăng 245 và 251.)
Đây là lần đầu tiên tôi chỉ huy một cuộc đổ quân dùng một hợp đoàn, gồm khoảng 30 chiếc, thuộc 3 phi đoàn trực thăng của SĐ3 KQ, cùng một lúc, chưa kể trực thăng chiến đấu. Một phi đoàn có khoảng 33 đến 38 trực thăng. Nhưng trên thực tế, mỗi phi đoàn chỉ có thể dùng khoảng 10 cho mỗi “flight” (phi vụ), 3 “gunships” (trực thăng chiến đấu), và một C&C. Lý do là máy bay cần được bảo trì và sửa chữa. Bình thường, mội “flight” của phi đội dùng khoảng từ 10 cho đến 15 trực thăng chở 1 đại đội, đổ xuống mục tiêu rồi quay về bốc đại đội kế tiếp. Giờ đây 3 phi đoàn gồm khoảng 30 chiếc trực thăng, mỗi phi đoàn cất cánh cách nhau 5 phút, trực thăng vận nguyên cả tiểu đoàn bộ binh xuống mục tiêu, trong một lần.
Trong đợt đổ quân đầu, một “gunship” đã bị bắn hỏng nhưng đã cố gắng bay vào khu vực có quân bạn nên cả phi hành đoàn được cứu. Các đợt sau các máy bay đều bị bắn và bãi đáp bị pháo kích. Qua báo cáo từ dưới đất, cho biết VC cũng đã pháo kích vào vị trí gây thiệt hại ít nhiều cho đơn vị bạn. Rõ ràng VC đã không kịp chuẩn bị để tấn công đơn vị này. Khi về đến Lai Khê, kiểm soát lại chúng tôi mới thấy các máy bay chở quân (slick) cũng bị trúng đạn nhiều qua những lỗ thủng trên thân, nhưng may mắn không có chiếc nào bị hư hỏng nặng.
Cuối cùng, cuộc hành quân trực thăng vận đã chấm dứt với tổn thất được coi như tối thiểu, như dự đoán. Qua tin tức của phòng hành quân, tôi được biết đơn vị này đã bắt tay được với các đơn vị phòng thủ, khoảng 2 hay 3 ngày sau đó.
Phi Đoàn 221 cũng đã trực thăng vận Tiểu Đoàn 6, thuộc LĐ1 ND xuống Đồi Gió, An Lộc. Khi tới đây, TĐ6 được lệnh phòng thủ trên đồi. TĐ đã bố trí 2 đại đội nằm trên, và 2 ĐĐ dưới chân đồi. Đêm hôm sau, VC đã tấn công và chặt đơn vị này làm hai. Vì áp lực của địch quá mạnh, 2 đại đội phiá dưới phải dạt về hướng Nam và bố trí trong một trảng rừng cao su, trong khi 2 đại đội phòng thủ phía trên được lệnh rút vào thị xã.
Phi đoàn 221 đã phải “bốc” 2 đại đội này về lại Lai Khê để bổ xung quân số cho cuộc đổ quân sau này. Vì quân số còn đông trong khi phương tiện chuyên chở giới hạn, nên có chiếc trực thăng phải chở đến khoảng 30 người, đến nỗi phi công phải “overdrive” (bắt máy móc làm quá sức) để cất cách. Khi về tới căn cứ, chiếc trực thăng này đã bị bỏ do máy đã hư hỏng. Trong giai đoàn này, SĐ 21 BB cũng đã được chuyển tới đây nhưng việc chuyên chở do một phi đoàn trực thăng tại Vùng 4 đảm trách.
Trong thời gian giữa tháng 4 và đầu tháng 5, tôi vẫn bay C&C để chỉ huy. Một lần, tôi, ĐT Tường “Mực”, và viên Đại Tá Cố Vấn SĐ3 KQ bay vào AL để quan sát tình hình. Đột nhiên, phòng không 23 ly của CSBV bắn nổ cách tôi khoảng 50m, khiến máy bay bị dội ngược quay ngang 90 độ, khi cơn cuồng phong của sức nổ không hất vào thân máy bay. Chúng tôi may mắn không ai bị thương nhưng đã bị giao động dữ dội. Về đến Lai Khê, chúng tôi mới biết cánh quạt đuôi có nhiều lỗ thủng. Thật là một kinh nghiệm khủng khiếp!
Mặc dù phi đoàn 221 có khoảng 30 trực thăng chuyên chở, nhưng phi đoàn có đến 110 sĩ quan hoa tiêu, 110 hạ sĩ quan trong đó một nửa là cơ khí viên phi hành và một nửa là xạ thủ phi hành. (Trong số những hoa tiêu này, tôi còn gặp các anh Nguyễn Văn Thân, Vũ Từ Hạnh, Đàm Khánh Thuỵ, Nguyễn Văn Điều, Vinh “râu”, Mai Văn Quế,…) Các hoa tiêu và phi hành đoàn không thể bay liên tục trong thời gian dài, do đó họ cần được phân công bay theo lịch trình ấn định và có thời gian để nghỉ ngơi.
Ngoài ra, Phi Đoàn 221 cũng có một số “gunships”giữ nhiệm vụ yểm trợ cho trực thăng chở quân (slick). Tuy nhiên trên thực tế, các trực thăng võ trang (gunship) cũng yểm trợ hoả lực cho các đơn vị bộ binh khi có yêu cầu. VC rất sợ loại máy bay này vì hoả lực mạnh, độ chính xác rất cao, và sự linh hoạt của nó. Khi trở về Lai Khê, các trực thăng võ trang thường dùng hết đạn dược mang theo.
Khi yểm trợ cho An Lộc, các phi công đôi khi mỗi ngày phải thực hiện 2 phi vụ khi có nhu cầu của chiến trường. Trong giai đoạn đầu khi cần chuyển quân và khi mặt trận chưa nặng, các phi công bay ra và vào An Lộc nhiều lần cho đến khi nào nhiệm vụ hoàn thành. Nhưng khi mặt trận trở nên khốc liệt, mỗi phi hành đoàn có thể chỉ bay một lần và phi vụ kế tiếp dành cho phi hành đoàn khác, nếu cần, vì việc điều khiển phi cơ chính xác tùy thuộc rất nhiều vào sự tỉnh táo của họ.
Ra vào một mặt trận không phải là chuyến bay dạo trên không, mà là những nguy hiểm mà các phi hành đoàn sẽ phải đối mặt. Mỗi lần vào An Lộc là mỗi lần như đi vào đất chết. Chúng ta cố gắng tiếp tế, chuyển quân cho An Lộc, trong khi VC cố tình ngăn chặn bằng cách bắn hạ trực thăng, phương tiện liên lạc duy nhất với nơi đây. Họ có thể nhận lãnh đạn AK, phòng không của CSBV trên đường bay đến và đi, nhận lãnh pháo kích khi đang ở bãi. Nhưng họ vẫn giữ bề ngoài tươi tỉnh, sẵn sàng chấp nhận tương lai bất trắc. Để làm tròn nhiệm vụ, phi hành đoàn gồm những phi công trẻ phải là những người can đảm, sẵn sàng chấp nhận hy sinh. Khi trực thăng cất cánh điều suy nghĩ duy nhất là làm sao thực hiện xong phi vụ và mong trở về an toàn.
Một lần, tôi đã nói chuyện với họ,
– Anh em nhớ, thời tôi mới ra trường làm phi công, VC chỉ dùng súng nặng nhất là AK, hoặc đại liên. Giờ đây, các anh sẽ đối diện với vũ khí nhẹ nhất là AK. Đừng lơ là, đùa dỡn khi điều khiển máy bay. Cần cố gắng giữ mạng sống của mình bằng cách theo đúng nguyên tắc, vì phi công chết vì chiến tranh chỉ chiếm khoảng 20%, còn 80 % chết vì trở ngại kỹ thuật, hoặc vì sự lơ đễnh, coi thường nguyên tắc điều khiển máy bay.
Phi hành đoàn và các đơn vị bộ binh đón nhận sự nguy hiểm có khác nhau. Sau thi hành một phi vụ xong trở về, phi hành đoàn có thể nghỉ ngơi chờ phi vụ tới. Nhưng các đơn vị bộ binh phải đối diện với nguy hiểm liên tục cho đến chừng nào mặt trận chấm dứt. Phi hành đoàn chỉ chiụ đựng ngắn hạn sự nguy hiểm, nhiều nhất là 30 phút, đến và đi khỏi mặt trận. Nhưng trong khoảng thời gian đó, phi hành đoàn trở thành mục tiêu chính của VC và có thể bị bắn hạ bằng nhiều loại súng của chúng bất cứ lúc nào. Định mệnh mỗi người tuỳ thuộc hoàn toàn vào sự may mắn, tính toán chính xác của phi công và các xạ thủ.
Sau 40 năm kể từ 30-4-75, hôm nay tôi có dịp cám ơn các quân nhân thuộc Phi Đoàn 221 đã góp sức cùng tôi làm tròn trách nhiệm nặng nề trong nhiều mặt trận, ở nhiều nơi, đặc biệt vào Mùa Hè Đỏ Lửa ở chiến trường An Lộc. Nơi đây, Phi Đoàn 221 đã phải thực hiện nhiều phi vụ vô cùng nguy hiểm, các phi công và các xạ thủ đã phải chiụ đựng áp lực tinh thần nặng nề, cũng như sự tổn thất lớn. Chỉ có những người có tinh thần kỷ luật quân đội cao và đầy lòng can đảm mới có thể chu toàn nhiệm vu.
Nhân dịp này, tôi xin nghiêng mình trước sự hy sinh của những người đã khuất. Phi đoàn 221 được mọi người nể trọng là do sự đóng góp của tất cả mọi người. Có thể nói, mặt trận An Lộc kéo dài khoảng 90 ngày thì tôi có mặt ở bầu trời AL khoảng 70 ngày. Tôi không bao giờ nghĩ có thể sống sót để gặp mặt gia đình, vợ con sau những tháng ngày yểm trợ cho mặt trận. Thượng đế đã thương anh em chúng tôi vì đến nay vẫn còn có thể gặp lại nhau. Những quân nhân của Phi Đoàn 221 Trực Thăng, còn sống sót sau chiến dịch 1972, chắc cùng ý nghĩ như tôi.
TNT
__._,_.___
________________________________________

Tin buồn bạn Nguyễn xuân Hoàng qua đời

             PHÂN ƯU

Được tin :

          Bạn NGUYỄN XUÂN HOÀNG

CSVSQK16/TVBQGVN

Vừa qua đời tại New Jersey ngày 30/6/2015

Hưởng thọ 75 tuổi

Toàn thể các bạn khóa 16/TVBQGVN xin chia buồn cùng chị Hoàng và tang quyến

Kính nguyện cầu anh linh bạn Hoàng sớm được siêu thoát.

Truyền thông khóa 16/TVBQGVN